Bản dịch
THA -ap318 — Ký Sự về Trưởng Lão Āsanatthavika
6 Āsanasanthavikattheraapadāna
BJT 2793Ngôi bảo tháp của đấng quyến thuộc thế gian Sikhī tên là Uttama. Lúc bấy giờ, tôi đã mò mẫm lang thang ở trong khu rừng hoang vắng.
BJT 2794Sau khi lìa khỏi khu rừng bao la, tôi đã nhìn thấy ngôi bảo tọa sư tử. Tôi đã khoác y một bên vai, đã chắp tay lên, và đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 2795Sau khi đã ngợi ca đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian, hết một khoảng thời gian trong ngày, (tôi đã) trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã thốt lên lời nói này:
BJT 2796“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Đại Hùng, bạch bậc Trưởng Thượng của thế gian, bạch đấng Nhân Ngưu, Ngài là đấng Toàn Tri.”
BJT 2797Bằng cách lấy Ngài làm đối tượng, tôi đã ngợi ca đức Phật Sikhī và đã đảnh lễ ngôi bảo tọa, sau đó tôi đã ra đi, mặt hướng phía Bắc.
BJT 2798(Kể từ khi) tôi đã ngợi ca đấng cao quý trong số các vị đang thuyết giảng trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ca ngợi.
BJT 2799Trước đây hai mươi bảy kiếp, bảy vị (cùng) tên Atulya ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2800Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Āsanatthavikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Āsanasanthavikattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Āsanasanthavika
6. Thánh tích Trưởng lão Āsanasanthavika
26.
26.
26.
‘‘Cetiyaṃ uttamaṃ nāma, sikhino lokabandhuno;
Araññe irīṇe vane, andhāhiṇḍāmahaṃ tadā.
There is a cetiya named Uttama of Sikhi, the kinsman of the world. At that time, I was wandering lost in a forest, a barren wilderness.
“Bảo tháp tên là Uttama của đấng Sikhī, bậc Thân Hữu của thế gian (đã hiện hữu). Vào lúc ấy, tôi đã đi lang thang trong khu rừng hoang vu, cằn cỗi.”
27.
27.
27.
‘‘Pavanā nikkhamantena, diṭṭhaṃ sīhāsanaṃ mayā;
Ekaṃsaṃ añjaliṃ katvā, santhaviṃ † lokanāyakaṃ.
Coming out of the forest, a lion-seat was seen by me. Having placed my upper robe over one shoulder and having made the gesture of reverence, I praised the leader of the world.
“Trong khi đi ra khỏi khu rừng, tôi đã nhìn thấy pháp tòa. Sau khi vắt thượng y qua một bên vai, tôi đã chắp tay và tán thán đấng Lãnh Đạo thế gian.”
28.
28.
28.
‘‘Divasabhāgaṃ thavitvāna, buddhaṃ lokagganāyakaṃ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, imaṃ vācaṃ udīrayiṃ.
Having praised the Buddha, the foremost leader of the world, for a part of the day, being joyful, with a joyful mind, I uttered this speech:
“Sau khi đã tán thán đức Phật, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, trong suốt một phần của ngày, tôi, với tâm hoan hỷ, đã thốt lên lời nói này:”
29.
29.
29.
‘‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Sabbaññūsi mahāvīra, lokajeṭṭha narāsabha’.
‘Homage to you, O thoroughbred of men, homage to you, O supreme among men. You are omniscient, O great hero, foremost in the world, O bull among men.’
“‘Xin đảnh lễ Ngài, bậc Long Tượng trong loài người, xin đảnh lễ Ngài, bậc Tối Thắng trong loài người. Hỡi bậc Đại Dũng, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, Ngài là bậc Toàn Tri.’”
30.
30.
30.
‘‘Abhitthavitvā sikhinaṃ, nimittakaraṇenahaṃ;
Āsanaṃ abhivādetvā, pakkāmiṃ uttarāmukho.
Having praised Sikhi, taking that seat as a sign, and having paid homage to it, I departed facing north.
“Sau khi đã tán thán đức Phật Sikhī bằng cách ghi nhớ (trong tâm), tôi đã đảnh lễ pháp tòa rồi hướng về phương bắc mà ra đi.”
31.
31.
31.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ thaviṃ vadataṃ varaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, thomanāya idaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons ago from this one, when I praised the best of speakers, I have known no woeful state since then; this is the fruit of that praise.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, tôi đã tán thán bậc Tối Thượng trong các bậc thuyết giảng; kể từ đó, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc tán thán.”
32.
32.
32.
‘‘Sattavīse ito kappe, atulā satta āsu te;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
Twenty-seven aeons ago from this one, there were those seven wheel-turning monarchs of great strength named Atula, endowed with the seven treasures.
“Cách đây hai mươi bảy kiếp, đã có bảy vị (vua) tên là Atula, các vị ấy là Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị bảy báu vật.”
33.
33.
33.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... tôi đã thực hành giáo huấn của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā āsanasanthaviko † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable Elder Āsanasanthavika spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Āsanasanthavika đã nói những câu kệ này.
Āsanasanthavikattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Apadāna of the Elder Āsanasanthavika.
Thánh tích của Trưởng lão Āsanasanthavika, chương thứ sáu.