Bản dịch
THA -ap308 — Ký Sự về Trưởng Lão Sampasādaka
6 Sampasādakattheraapadāna
BJT 2740Bạch đức Phật Anh Hùng, con kính lễ Ngài! Ngài đã được giải thoát về mọi phương diện. Vì con đã bị lâm vào cảnh bất hạnh, xin Ngài hãy là nơi nương nhờ của con đây.
BJT 2741Đức Siddhattha, bậc không người đối địch ở thế gian, đã chú nguyện cho tôi đây rằng: “Hội Chúng là vô thượng, không thể đo lường, sánh bằng biển lớn.
BJT 2742Ngươi hãy làm cho tâm được tịnh tín ở Hội Chúng, thửa ruộng không bị nhơ bẩn, nguồn ban phát kết quả vô cùng tận. Ngươi đã gieo hạt giống tốt, ngươi hãy trồng tỉa ở tại nơi ấy.”
BJT 2743Sau khi nói xong điều này, sau khi đã chỉ dạy cho tôi như thế, đấng Toàn Tri, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đã bay lên khoảng không ở bầu trời.
BJT 2744Khi bậc Toàn Tri, đấng Nhân Ngưu, vừa mới ra đi không bao lâu, tôi đã gần kề sự chết, và tôi đã được sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 2745Khi ấy, sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín ở Hội Chúng, thửa ruộng không bị nhơ bẩn, nguồn ban phát kết quả vô cùng tận, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2746Kể từ khi tôi đã đạt được niềm tịnh tín trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của niềm tịnh tín.
BJT 2747Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sampasādakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Sampasādakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Sampasādaka
6. Thiên sử về trưởng lão Sampasādaka
24.
24.
24.
‘‘‘Namo te buddha vīratthu, vippamuttosi sabbadhi;
Byasanamhi † anuppatto, tassa me saraṇaṃ bhava’.
‘Homage to you, O Buddha, O Hero! You are freed in every way. I have fallen into misfortune; be a refuge to me.’
‘Xin đảnh lễ Ngài, bậc Phật-đà, bậc Anh-hùng. Ngài đã được giải thoát khỏi tất cả. Con đã gặp phải tai ương, xin Ngài hãy là nơi nương tựa cho con.’
25.
25.
25.
‘‘Siddhattho tassa byākāsi, loke appaṭipuggalo;
‘Mahodadhisamo saṅgho, appameyyo anuttaro.
Siddhattha, the incomparable person in the world, declared to him: ‘The Saṅgha is like the great ocean, immeasurable, unsurpassed.
Đức Phật Siddhattha, bậc Vô Song trong thế gian, đã giải thích cho vị ấy rằng: ‘Tăng chúng giống như đại dương, không thể đo lường, là vô thượng.’
26.
26.
26.
‘‘‘Tattha tvaṃ viraje khette, anantaphaladāyake;
Saṅghe cittaṃ pasādetvā, subījaṃ vāpa † ropaya.
‘There, in that stainless field which yields endless fruit, in the Saṅgha, having made your mind serene, sow and plant the good seed.’
‘Ở nơi Tăng chúng ấy, là thửa ruộng không nhiễm ô, mang lại quả báo vô tận, sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín, ngươi hãy gieo trồng hạt giống tốt.’
27.
27.
27.
‘‘Idaṃ vatvāna sabbaññū, lokajeṭṭho narāsabho;
Mameva anusāsitvā, vehāsaṃ nabhamuggami.
Having said this, the All-Knowing One, the chief of the world, the bull among men, after instructing me alone, ascended into the open sky.
Bậc Toàn Tri, bậc Tối Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi nói lời này và chỉ giáo huấn riêng tôi, đã bay lên không trung, lên bầu trời.
28.
28.
28.
‘‘Aciraṃ gatamattamhi, sabbaññumhi narāsabhe;
Maraṇaṃ samanuppatto, tusitaṃ upapajjahaṃ.
Not long after the All-Knowing One, the bull among men, had gone, having reached death, I arose in the Tusita realm.
Không bao lâu sau khi bậc Toàn Tri, bậc Ngưu Vương trong loài người, vừa mới ra đi, tôi đã mệnh chung và được sanh lên cõi trời Tusita (Đâu-suất).
29.
29.
29.
‘‘Tadāhaṃ viraje khette, anantaphaladāyake;
Saṅghe cittaṃ pasādetvā, kappaṃ saggamhi modahaṃ.
At that time, having made my mind serene towards the Saṅgha—that stainless field which gives limitless fruit—I rejoiced in a heavenly world for an aeon.
Khi ấy, do đã làm cho tâm tịnh tín ở nơi Tăng chúng, là thửa ruộng không nhiễm ô, mang lại quả báo vô tận, tôi đã hoan hỷ ở cõi trời trong một kiếp.
30.
30.
30.