Bản dịch
THA -ap307 — Ký Sự về Trưởng Lão Phaladāyaka
Phaladāyakattheraapadāna
BJT 2736Lúc bấy giờ, đã có khu ẩn cư ở bờ sông Bhāgīrathī. Có sự mong cầu, tôi đã đi đến khu ẩn cư ấy, tay cầm trái cây.
BJT 2737Ở tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy (đức Phật) Vipassī tợ như mặt trời có tia sáng màu vàng. Tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư tất cả trái cây mà tôi có.
BJT 2738Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 2739Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Phaladāyakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Phaladāyaka
5. Tiểu sử của trưởng lão Phaladāyaka
20.
20.
20.
‘‘Bhāgīrathīnadītīre, ahosi assamo tadā;
Tamahaṃ assamaṃ gacchiṃ, phalahattho apekkhavā.
On the bank of the Bhāgīrathī river, there was a hermitage at that time; with fruit in hand and being expectant, I went to that hermitage.
“Vào lúc ấy, đã có một am thất ở trên bờ sông Bhāgīrathī. Tôi, với trái cây ở trong tay và có lòng mong mỏi, đã đi đến am thất ấy.”
21.
21.
21.
‘‘Vipassiṃ tattha addakkhiṃ, pītaraṃsiṃva bhāṇumaṃ;
Yaṃ me atthi phalaṃ sabbaṃ, adāsiṃ satthuno ahaṃ.
There I saw Vipassī, radiant like the sun. Whatever fruit I had, all of it I gave to the Teacher.
“Ở nơi ấy, tôi đã nhìn thấy ngài Vipassī, giống như mặt trời có các tia sáng màu vàng. Bất cứ trái cây nào tôi có, tất cả trái cây ấy tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư.”
22.
22.
22.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first aeon from this one, when I gave that fruit, I have known no woeful state; this is the fruit of the gift of fruit.
“Trong chín mươi mốt kiếp kể từ đây, khi ấy tôi đã dâng cúng trái cây. Tôi không hề biết đến cảnh khổ. Đây là quả báu của việc dâng cúng trái cây.”
23.
23.
23.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... [etc.] ... the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Phaladāyaka spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Phaladāyaka đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Phaladāyakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Fifth Apadāna of the Elder Phaladāyaka.
Thiên sử về trưởng lão Phaladāyaka là phần thứ năm.