Bản dịch
THA -ap304 — Ký Sự về Trưởng Lão Sabbagandhiya
Sabbagandhiyattheraapadāna
BJT 2721Tôi đã dâng cúng tràng hoa có hương thơm đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī. Tôi đã dâng cúng tấm vải thượng hạng bằng tơ lụa đến bậc có bản thể chính trực
BJT 2722(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng vật thơm trước đây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thơm.
BJT 2723Trước đây mười lăm kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Sucela, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2724Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sabbagandhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Sabbagandhiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Sabbagandhiya
2. Tiểu sử của trưởng lão Sabbagandhiya
5.
5.
5.
‘‘Gandhamālaṃ mayā dinnaṃ, vipassissa mahesino;
Adāsiṃ ujubhūtassa, koseyyavatthamuttamaṃ.
“A fragrant garland was given by me to the Great Sage, Vipassī. To him who was upright, I gave the supreme silk cloth.”
“Vòng hoa hương đã được tôi dâng cúng đến đấng Đại Ẩn Sĩ Vipassī. Tôi đã dâng cúng tấm vải lụa cao quý đến bậc ngay thẳng.
6.
6.
6.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ vatthamadadiṃ † pure;
Duggatiṃ nābhijānāmi, gandhadānassidaṃ phalaṃ.
“In the ninety-first aeon from this one, when I formerly gave that cloth, I have not known a woeful state since then; this is the fruit of the offering of fragrance.”
“Trong chín mươi mốt kiếp kể từ đây, khi tôi đã dâng cúng tấm vải trong quá khứ, tôi không hề biết đến cảnh khổ. Đây là quả báu của việc dâng cúng hương thơm.”
7.
7.
7.
‘‘Ito pannarase kappe, suceḷo nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
“Fifteen aeons from this one, I was a khattiya named Suceḷa, a wheel-turning monarch of great strength, endowed with the seven treasures.”
“Vào kiếp thứ mười lăm kể từ đây, tôi là vị Sát-đế-lỵ tên Suceḷa, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.”
8.
8.
8.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sabbagandhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Sabbagandhiya spoke these verses.
Như vậy, được biết rằng trưởng lão khả kính Sabbagandhiya đã thuyết những câu kệ này.
Sabbagandhiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Sabbagandhiya is concluded.
Phần tiểu sử của trưởng lão Sabbagandhiya là phần thứ hai.