Bản dịch
THA -ap303 — Ký Sự về Trưởng Lão Padumakesariya
Padumakesariyattheraapadāna
BJT 2717Trong thời quá khứ, tôi đã là con voi ở hội chúng các vị Ẩn Sĩ. Do niềm tịnh tín, tôi đã rải rắc nhụy của hoa sen đến các bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 2718Các đấng Chiến Thắng Độc Giác tối thượng là những vị có các ái đã được giũ bỏ như thế ấy. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở các vị ấy, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2719Kể từ khi tôi đã rải rắc nhụy hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2720Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumakesariyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Padumakesariyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Padumakesariya
1. Thánh tích về trưởng lão Padumakesariya
1.
1.
1.
‘‘Isisaṅghe ahaṃ pubbe, āsiṃ mātaṅgavāraṇo;
Mahesīnaṃ pasādena, padmakesaramokiriṃ.
“Formerly, in an assembly of seers, I was a mātaṅga elephant. With devotion for those Great Seers, I scattered lotus filaments.”
Trước đây, ở giữa Tăng chúng là các vị ẩn sĩ, tôi đã là một con voi chúa. Do sự trong sạch (tín tâm) đối với các bậc Đại ẩn sĩ, tôi đã rải rắc nhụy hoa sen.
2.
2.
2.
‘‘Paccekajinaseṭṭhesu, dhutarāgesu tādisu;
Tesu cittaṃ pasādetvā, kappaṃ saggamhi modahaṃ.
“Having made my mind serene towards those supreme Paccekajinas—who had shaken off passion and were steadfast—I rejoiced in a heavenly realm for an aeon.”
Đối với các bậc Tối Thắng là Độc Giác, các bậc Tādī đã rũ bỏ tham ái, sau khi đã làm cho tâm ý trong sạch đối với các vị ấy, tôi đã hoan hỷ ở cõi trời trong một đại kiếp.
3.
3.
3.
‘‘Ekanavutito kappe, kesaraṃ okiriṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“In the ninety-first aeon from this one, when I scattered those filaments, I have not known a woeful state since then; this is the fruit of venerating a Buddha.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, vào lúc ấy tôi đã rải rắc nhụy hoa. Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.
4.
4.
4.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā padumakesariyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Padumakesariya spoke these verses.
Như vậy, được biết rằng trưởng lão khả kính Padumakesariya đã thuyết những câu kệ này.
Padumakesariyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Padumakesariya is concluded.
Phần tiểu sử của trưởng lão Padumakesariya là phần thứ nhất.