Bản dịch
THA -ap302 — Ký Sự về Trưởng Lão Anusaṃsāvaka
Anusaṁsāvakattheraapadāna
BJT 2713Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Vipassī đang đi khất thực. Tôi đã dâng lên một vá thức ăn đến đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 2714Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã đảnh lễ và tôi đã ngợi ca đức Phật nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 2715(Kể từ khi) tôi đã ngợi ca (đức Phật) trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca (đức Phật).
BJT 2716Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Anusaṁsāvakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Giàn hỏa thiêu, bông hoa san hô, chiếc lọng (trắng), tiếng động, việc trải lót xương sọ của loài bò, (vị đảnh lễ) bàn chân, (vị tán dương) khu vực, sự nương nhờ, trái xoài, và luôn cả vị ngợi ca (đức Phật); (tổng cộng) có bốn mươi bảy câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Citakapūjaka là phẩm thứ ba mươi.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Bông hoa kaṇikāra, vị cúng dường voi, vật tựa (lưng), chỗ ngồi và nước, hạt tuvara nướng, vị tán dương, và luôn cả việc thảy lên (không trung), gối kê đầu, vị dâng cúng lá cây, và vị cúng dường lễ hỏa táng; toàn bộ các câu kệ ở đây là bốn trăm năm mươi mốt câu.
Tất cả gồm có hai ngàn năm trăm và bảy mươi hai câu thêm vào đó nữa. (Tổng cộng) có ba trăm ký sự đã được tính đếm bởi các vị nhìn thấy sự lợi ích.
Nhóm “Một Trăm” thứ ba được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Anusaṃsāvakattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Anusaṃsāvaka
10. Thánh tích về trưởng lão Anusaṃsāvaka
43.
43.
43.
‘‘Piṇḍāya caramānāhaṃ, vipassimaddasaṃ jinaṃ;
Uḷuṅgabhikkhaṃ pādāsiṃ, dvipadindassa tādino.
“While wandering for alms, I saw the Victor Vipassī. I gave a ladleful of almsfood to the lord of bipeds, the one endowed with the quality of ‘tādi’.”
Trong lúc đang đi khất thực, tôi đã nhìn thấy đức Vipassī, là bậc Chiến Thắng. Tôi đã dâng cúng một muỗng vật thực đến bậc Tādī, là đấng Tối Thượng của chúng hai chân.
44.
44.
44.
‘‘Pasannacitto sumano, abhivādesahaṃ tadā;
Anusaṃsāvayiṃ buddhaṃ, uttamatthassa pattiyā.
“With a confident and gladdened mind, I then paid homage. For the attainment of the highest goal, I praised the Buddha.”
Vào lúc ấy, với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã đảnh lễ. Tôi đã tán dương đức Phật vì sự thành tựu mục đích tối thượng.
45.
45.
45.
‘‘Ekanavutito kappe, anusaṃsāvayiṃ ahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, anusaṃsāvanā phalaṃ.
“In the ninety-first aeon from this one, when I praised the Buddha, I have not known a woeful state since then; this is the fruit of that praise.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, tôi đã tán dương (đức Phật). Tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc tán dương.
46.
46.
46.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā anusaṃsāvako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Anusaṃsāvaka spoke these verses.
Như thế, trưởng lão Anusaṃsāvaka đã nói lên những câu kệ này.
Anusaṃsāvakattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Anusaṃsāvaka is concluded.
Thánh tích về trưởng lão Anusaṃsāvaka, câu chuyện thứ mười.
Citakapūjakavaggo tiṃsatimo.
The Thirtieth Chapter: The Worshipper of the Pyre.
Phẩm Citakapūjaka, phẩm thứ ba mươi.
Tassuddānaṃ –
The summary verse for this is:
Phần kệ tóm tắt của phẩm ấy:
Citakaṃ pārichatto ca, saddagosīsasantharaṃ;
Pādo padesaṃ saraṇaṃ, ambo saṃsāvakopi ca;
Aṭṭhatālīsa gāthāyo, gaṇitāyo vibhāvibhi.
Citaka, Pārichatta, Sadda, Gosīsasanthara, Pada, Padesa, Saraṇa, Amba, and Saṃsāvaka: forty-eight verses have been counted by the wise.
Citaka, Pārichatta, Sadda, Gosīsasanthara, Pāda, Padesa, Saraṇa, Amba, và Saṃsāvaka. Các câu kệ đã được các bậc hiền trí đếm là bốn mươi tám.
Atha vagguddānaṃ –
Then the chapter summary:
Kế đến, phần kệ tóm tắt các phẩm:
Kaṇikāro hatthidado, ālambaṇudakāsanaṃ;
Tuvaraṃ thomako ceva, ukkhepaṃ sīsupadhānaṃ.
The Kaṇikāra, Hatthidada, Ālambaṇa, Udakāsana, Tuvara, Thomaka, Ukkhepa, and Sīsupadhāna chapters.
Kaṇikāra, Hatthidada, Ālambaṇudakāsana, Tuvaraṃ, Thomaka, Ukkhepa, và Sīsupadhāna.
Paṇṇado citapūjī ca, gāthāyo ceva sabbaso;
Cattāri ca satānīha, ekapaññāsameva ca.
The Paṇṇada and Citapūjī chapters; and altogether here the verses are four hundred and fifty-one.
Paṇṇada và Citapūjī. Và ở đây, toàn bộ các câu kệ là bốn trăm và năm mươi mốt.
Pañcavīsasatā sabbā, dvāsattati taduttari;
Tisataṃ apadānānaṃ, gaṇitā atthadassibhi.
Of the three hundred Apadānas, all twenty-five hundred and seventy-two verses have been counted by those who see the benefit.
Toàn bộ (các câu kệ) của ba trăm câu chuyện Thánh tích là hai ngàn năm trăm và bảy mươi hai câu thêm nữa, đã được các bậc thấy được ý nghĩa đếm như vậy.
The Decade of the Kaṇikāra Chapter.
Mười phẩm bắt đầu với phẩm Kaṇikāravagga.
Tatiyasatakaṃ samattaṃ.
The Third Hundred is concluded.
Phần một trăm (câu chuyện) thứ ba đã hoàn tất.