Bản dịch
THA -ap3 — Ký Sự về Trưởng Lão Sāriputta
Sāriputtattheraapadāna
Giờ xin thỉnh các vị hãy lắng nghe ký sự về các vị trưởng lão:
BJT 140Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên là Lambaka, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 141Ở không xa khu ẩn cư của tôi là con sông nhỏ có bờ nước lúp xúp có bãi nước cạn xinh đẹp được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ý.
BJT 142Con sông nhỏ chảy qua tại nơi ấy, không có cát, không có hố sâu, (có nước) dịu ngọt, không có mùi khó chịu, điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 143Tại nơi ấy có con sông nhỏ, và có các con cá sấu kumbhīla, cá lưỡi kiếm, cá sấu suṁsumāra và các con rùa lởn vởn ở nơi này đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 144Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá maggura đang vượt giòng nước, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 145Ở hai bên bờ của con sông, có những giống cây được đơm hoa, kết trái đang trĩu xuống từ cả hai phía, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 146Có các cây xoài, cây sālā, cây tilaka, cây pāṭalī, cây sinduvāraka tỏa ra hương thơm của cõi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 147Có các cây campaka, cây salala, cây nīpa, cây nāga, cây nguyệt quế, cây dứa hoang tỏa ra hương thơm của cõi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 148Có các cây atimutta, cây asoka, và cây bhaginimālā được nở rộ hoa, có các cây aṅkola và các cây bimbijāla được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.
BJT 149Có các cây dừa dại, và luôn cả cây kandalī, các cây godhuka, và các bụi cây tiṇasūlika tỏa ra hương thơm của cõi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 150Có nhiều cây kaṇikāra, cây kaṇṇika, cây asana, và cây ajjuna tỏa ra hương thơm của cõi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 151Có các cây nguyệt quế, cây nguyệt quế núi, cây koviḷāra được nở rộ hoa, tỏa ra hương thơm của cõi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 152Có nhiều cây bả đậu, cây kuṭaja, cây kadamba, cây vakula tỏa ra hương thơm của cõi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 153Các cây āḷaka, các cây isimugga, các cây chuối, và các cây chanh được phát triển nhờ vào làn nước thơm, chúng trĩu những quả.
BJT 154Một số sen hồng trổ hoa, một số khác đơm nhụy, một số khác nữa đã úa tàn; các đóa sen hồng luôn luôn được nở rộ ở trong hồ nước.
BJT 155Chen chúc với những lá cây siṅghāṭaka, những đóa sen hồng đang tượng hình có những rễ sen đang cắm xuống luôn luôn rực rỡ ở trong hồ nước.
BJT 156Được đem lại, các cây ambagandhī, các cây uttāla, các cây bandhujīvaka tỏa ra hương thơm của cõi trời luôn luôn được nở rộ ở trong hồ nước.
BJT 157Các loài cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá aṅgula, và cá maṅgura nữa luôn luôn sống ở trong hồ nước.
BJT 158Các con cá sấu loại kumbhīla, loại suṁsumāra, loại cá tantigāha, các hạng quỷ sứ, các loài rắn, và các loài mãng xà luôn luôn sống ở trong hồ nước.
BJT 159Các chim bồ câu, các loài ngỗng trời, ngỗng đỏ, các loài sống ở sông, các chim cu cu, chim két, chim sáo sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 160Các loài chim kukutthaka, chim kulīraka, chim pokkharasātaka ở rừng, chim le le, và chim suvapota sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 161Các chim thiên nga, chim cò, chim công, chim cu cu, gà rừng, chim pampaka, và chim jīvaṁjīva sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 162Nhiều loài chim (ở đất liền) như chim cú mèo, chim gõ kiến, chim kurara, chim diều hâu, và chim mahākāla sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 163Nhiều con hươu, heo rừng, chó sói, chó rừng, nai, và loài thú suggapota sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 164Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, và các con voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 165Các hạng kim-sỉ-điểu luôn cả các loài khỉ, và cũng có những người thợ rừng, các người phục vụ, luôn cả các thợ săn sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 166Ở không xa khu ẩn cư của tôi, có các cây tinduka, cây piyāla, cây cam thảo, và cây kāsumārī thường xuyên trĩu những trái.
BJT 167Ở không xa khu ẩn cư của tôi, có các cây kosumbha, cây salala, cây nīpa có trái ngọt thường xuyên trĩu những trái.
BJT 168Các cây harītaka, cây āmalaka, cây xoài, cây mận đỏ, cây vibhīṭaka, cây táo, cây bhallātaka, và cây billa, chúng trĩu những trái.
BJT 169Ở khu ẩn cư của tôi có nhiều loại (rễ củ) như là củ āluva, củ kalamba, củ biḷālī, củ takkaḷa, củ jīvaka, và củ sutaka nữa.
BJT 170Ở không xa khu ẩn cư của tôi đã có những hồ nước khéo được tạo lập, có nước trong, có nước mát, có những bến nước cạn xinh đẹp làm thích ý.
BJT 171Có hương thơm của cõi trời tỏa ra từ (hồ nước) được che phủ bởi những sen hồng, sen xanh, kết hợp với sen trắng, được che phủ bởi những cây mạn-đà-la.
BJT 172Khi ấy, tôi sống ở khu ẩn cư đáng yêu khéo được xây dựng ở trong khu rừng được đơm hoa, được kết trái, được hội đủ tất cả các yếu tố như thế.
BJT 173(Tôi) là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī có giới hạnh, thành tựu về phận sự, chứng thiền, luôn luôn thỏa thích về thiền, đã đạt được năng lực về năm thắng trí.
BJT 174Hai mươi bốn ngàn học trò đã phục vụ tôi. Tất cả những vị này đều là Bà-la-môn, có dòng dõi (cao quý), có danh vọng.
BJT 175Họ đã đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức, về từ ngữ, về văn phạm, và về giáo lý (của Bà-la-môn).
BJT 176Những người học trò của tôi là khéo được học tập, và rành rẽ về các hiện tượng thiên nhiên, về các điềm báo hiệu, về các tướng mạo, về địa lý, về trái đất, và về không gian.
BJT 177Là những người ít đòi hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài lòng với việc có hay không có, các vị này luôn luôn hầu cận tôi.
BJT 178Là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, không mong mỏi bất cứ điều gì, các vị luôn luôn hầu cận tôi.
BJT 179Là những bậc trí tuệ đã đạt được sự toàn hảo về các thắng trí, vui thích trong hành xứ của mình, có sự đi lại ở không trung, các vị luôn luôn hầu cận tôi.
BJT 180Các vị ấy là các bậc trí tuệ đã thu thúc ở sáu căn môn, không có dục vọng, có các giác quan được phòng hộ, và không quyến luyến; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 181Các vị ấy trải qua đêm với việc ngồi xuống bằng thế kiết già, với việc đứng và đi kinh hành; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 182Các vị không ái luyến những gì cám dỗ, không nổi giận những gì khiêu khích, không mê muội những gì mê hoặc; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 183Trong khi thử nghiệm các vị ấy thường xuyên thể hiện phép thần thông, các vị ấy làm rung chuyển trái đất; bằng sự đối nghịch khó mà tiếp cận.
BJT 184Và trong khi giải trí, những người học trò ấy giải trí với trò chơi của thiền, các vị đem lại trái cây từ cây mận đỏ; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 185Một số khác đi đến Tây Ngưu Hóa Châu, một số khác đến Đông Thắng Thần Châu, và một số khác đến Bắc Cu Lu Châu, bằng sự tìm kiếm khó mà tiếp cận.
BJT 186Các vị ấy chuyển đi túi đồ dùng ở phía trước và tiến lên ngay ở phía sau, bầu trời là bị che lấp bởi hai mươi bốn ngàn vị.
BJT 187Một số vị dùng vật thực là trái cây đã rụng xuống, có vị nấu bằng lửa, có vị không dùng lửa (ăn sống), có vị dùng răng, và cũng có vị dùng cối giã, có vị nghiền nát bằng đá.
BJT 188Một số vị ưa thích sự tẩy sạch (tội) có sự lội xuống nước sáng tối, một số vị thực hiện việc rải rắc nước (ở cơ thể); những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 189(Một số vị) có lông ở nách và móng tay chân được để dài, có răng dính bựa, có đầu vấy bụi, được tẩm hương bằng hương thơm của giới hạnh; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 190Vào sáng sớm, các vị đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột sau khi tụ hội lại đã nói về sự thành công và thất bại, rồi ra đi ở trên không trung.
BJT 191Trong khi những vị này ra đi, có tiếng động ồn ào phát ra bởi âm thanh của các tấm da dê khiến chư Thiên được hoan hỷ.
BJT 192Có sự di chuyển ở không trung, các vi ẩn sĩ ra đi phương này phương khác. Được nâng đỡ bởi năng lực của mình, các vị ấy ra đi theo như ước muốn.
BJT 193Chính tất cả các vị di chuyển ở hư không này là những vị làm rung chuyển trái đất, có oai lực nổi bật, khó mà khuất phục, tợ như biển cả không bị xao động.
BJT 194Một số vị ẩn sĩ có hạnh đứng và đi kinh hành, một số vị có hạnh ngồi, một số vị có vật thực đã được rơi xuống; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận.
BJT 195Những vị này an trú tâm từ, tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Tất cả các vị ấy không ca ngợi về bản thân và không khinh miệt bất cứ ai.
BJT 196Không bị hãi sợ như là sư tử chúa, có sức mạnh như là voi chúa, khó mà tiếp cận như là loài hổ, các vị đi đến gặp tôi.
BJT 197Các thầy về pháp thuật, chư Thiên, các loài rồng, càn-thát-bà, và loài quỷ sứ, các ác thần, những người khổng lồ, các loài nhân điểu sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 198Các vị ấy mang búi tóc và túi vật dụng, có y choàng là tấm da dê, có sự di chuyển ở không trung, tất cả sống nương tựa vào hồ nước ấy.
BJT 199Các vị này luôn luôn (có hành vi) đúng đắn, có sự kính trọng lẫn nhau. Trong số hai mươi bốn ngàn vị, tiếng động hỉ mũi không xảy ra.
BJT 200Trong khi đặt xuống từng bước từng bước chân, các vị khéo thu thúc, có ít tiếng động. Sau khi đến gần, hết thảy tất cả đều đê đầu đảnh lễ tôi.
BJT 201Được vây quanh bởi những người học trò thanh tịnh và khổ hạnh ấy, tôi sống tại nơi ấy, ở khu ẩn cư, có thiền chứng, được thỏa thích về thiền.
BJT 202Khu ẩn cư được tỏa hương với hương thơm trái cây của các cây cho quả và hai loại hương thơm giới hạnh của các vị ẩn sĩ và hương thơm của các bông hoa.
BJT 203Tôi không biết đến ngày và đêm, sự thù hận ở tôi không được biết đến. Trong khi giáo huấn những người học trò của mình, tôi đạt được niềm vui dào dạt.
BJT 204Trong khi các bông hoa đang trổ hoa và những trái cây đang kết trái, các hương thơm của cõi trời tỏa ra điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
BJT 205Khi ấy, là người có nhiệt tâm, cẩn trọng, sau khi xuất khỏi định, tôi đã cầm lấy túi vật dụng rồi đi sâu vào rừng.
BJT 206Khi ấy, tôi đã khéo được học tập về các hiện tướng và luôn cả về giấc mơ đã được khởi lên, tôi duy trì câu chú thuật đang được hiện hành.
BJT 207Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Toàn Giác có ước muốn độc cư nên đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 208Sau khi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đã xếp chân thế kiết già rồi ngồi xuống.
BJT 209Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác có vẻ ngời sáng làm thích ý, tợ như bông hoa súng được tỏa sáng, tợ như ngọn lửa tế thần được cháy rực.
BJT 210Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian tợ như cây đèn đang chiếu sáng, như là tia chớp ở bầu trời, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa
BJT 211Bậc Cao Quý này là đấng Đại Hùng, vị Đoạn Tận khổ đau, bậc Hiền Trí. Do việc nhìn thấy Ngài, toàn bộ khổ đau được phóng thích.
BJT 212Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, tôi đã suy xét về tướng mạo: “Là đức Phật hay không phải là đức Phật? Vậy ta hãy quan sát bậc Hữu Nhãn.”
BJT 213Những bánh xe có ngàn căm được nhìn thấy ở lòng bàn chân cao quý. Sau khi nhìn thấy những tướng mạo của Ngài, tôi đã đi đến quyết định (Ngài là) đức Như Lai.
BJT 214Khi ấy, tôi đã cầm lấy chiếc chổi và đã quét dọn. Rồi tôi đã tự mình mang lại những đóa hoa và đã cúng dường đến đức Phật tối thượng.
BJT 215Sau khi đã cúng dường đến bậc Toàn Giác, vị đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã lễ bái đấng Lãnh Đạo Thế Gian (và đã nói rằng):
BJT 216“Đấng Toàn Giác bậc không còn lậu hoặc đã an trú với trí tuệ nào, tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. Xin các người hãy lắng nghe tôi nói.
BJT 217Bạch đấng Tự Chủ có sự tấn hóa vô lượng, xin Ngài hãy tiếp độ thế gian này. Sau khi đi đến nhìn thấy Ngài, những người ấy vượt qua dòng nước nghi hoặc.
BJT 218Bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy, là cờ hiệu, là biểu tượng, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, và là ngọn đèn của chúng sanh.
BJT 219Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo lường nước ở biển cả bằng vật chứa, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài.
BJT 220Bạch đấng Toàn Tri, có thể nắm lấy trái đất đặt vào đĩa cân, nhưng không thể nào nắm lấy trí tuệ của Ngài.
BJT 221Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo đạc bầu trời bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài.
BJT 222(Trí tuệ của đức Phật) vượt hẳn nước trong đại dương và đất liền rắn rỏi. So sánh với trí tuệ của đức Phật không gì được xem là tương đương.
BJT 223Bạch đấng Hữu Nhãn, ở thế gian luôn cả chư Thiên những ai có tâm (được) vận hành, họ đều đi vào trong màng lưới ở trí tuệ của Ngài.
BJT 224Bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ nào Ngài (đã) chứng đạt sự Giác Ngộ tối thượng toàn vẹn thì bằng trí tuệ ấy Ngài (đã) chế ngự các ngoại đạo khác.”
BJT 225Sau khi ngợi ca bằng các câu kệ này, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī ấy đã trải ra tấm da dê ở trên mặt đất rồi đã ngồi xuống.
BJT 226Được truyền tụng rằng ngọn núi chúa (Neru) đã chìm sâu vào trong đại dương tám mươi bốn ngàn (do-tuần) và đã vươn cao cũng với khoảng cách như thế.
BJT 227Ngọn núi Neru ấy đã vươn cao đến chừng ấy về chiều dài và chiều rộng. Nó đã bị nghiền nát thành trăm ngàn koṭi mảnh vụn nhỏ.
BJT 228“Bạch đấng Toàn Tri, trong khi được xếp thành từng nhóm một trăm ngàn những mảnh vụn nhỏ ấy đã đi đến sự chấm dứt, nhưng trí tuệ của Ngài vẫn không thể nào đo lường được.
BJT 229Nếu người nào rào quanh nước bằng tấm lưới có lỗ nhỏ, thì bất cứ các chúng sanh ở trong nước đều có thể rơi vào trong tấm lưới.
BJT 230Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế những người nào là phàm phu ngoại đạo đang lao theo việc nắm bắt tà kiến đều đã bị mê muội do sự vướng mắc (vào mạng lưới tà kiến).
BJT 231Do trí tuệ trong sạch và tầm nhìn không bị che lấp của Ngài, những người đã đi vào trong mạng lưới không vượt hơn trí tuệ của Ngài.”
BJT 232Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Anomadassī, đấng Chiến Thắng có danh vọng lớn lao, sau khi xuất khỏi thiền định, đã quan sát phương hướng.
BJT 233234. Vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Anomadassī tên là Nisabha được tháp tùng bởi một trăm ngàn vị có tâm an tịnh như thế ấy, là các bậc Vô Lậu, được trong sạch, có sáu thắng trí, có thiền chứng. Sau khi biết được tâm của đức Phật, vị ấy đã đi đến gần đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 235Tại nơi ấy, đứng ở trên không trung các vị ấy đã đi nhiễu quanh, tay chắp lên lễ bái, rồi đã đáp xuống gần bên đức Phật.
BJT 236Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã để lộ nụ cười.
BJT 237Vị thị giả của đấng Toàn Tri bậc Đại Ẩn Sĩ, có tên là Varuṇa, sau khi đắp y một bên vai, đã hỏi đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
BJT 238“Bạch đức Thế Tôn, điều gì là nguyên nhân của việc nở nụ cười của bậc Đạo Sư? Bởi vì chư Phật, không có nguyên nhân các Ngài không để lộ nụ cười.”
BJT 239Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã ngồi xuống ở giữa Hội Chúng và đã nói lên lời kệ này:
BJT 240“Người nào đã cúng dường Ta bằng bông hoa và cũng đã ngợi ca trí tuệ (của Ta), Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.”
BJT 241Nhận biết lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đã tụ hội lại. Có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đã đi đến gần đấng Toàn Giác.
BJT 242Chư Thiên có đại thần lực ở tất cả các thế giới, các vị nào có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đã đi đến gần đấng Toàn Giác.
BJT 243“Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 244Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên phục vụ người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 245Mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 246Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 247Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần.
BJT 248Và sẽ là vị Chủa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 249Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, người này sẽ đi đến bản thể nhân loại. Người nữ Bà-la-môn tên Sāriyā sẽ mang bào thai (vị này).
BJT 250Người nam này sẽ được biết đến với danh hiệu dòng họ của người mẹ, và sẽ có trí tuệ sắc bén với tên là Sāriputta.
BJT 251Sau khi lìa bỏ tám mươi koṭi người này sẽ xuất gia, không còn sở hữu gì. Trong khi tầm cầu vị thế an tịnh, người này sẽ lang thang ở trái đất.
BJT 252Vô lượng kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 253Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống,được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu với tên là Sāriputta.
BJT 254Được phát xuất từ núi Hi-mã-lạp, con sông Bhāgīrathī này đổ về biển cả, làm thỏa mãn đại dương.
BJT 255Tương tợ y như thế, vị Sāriputta này, được tự tin vào ba bộ Vệ Đà, sẽ đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ làm thỏa ý các chúng sinh.
BJT 256Bắt nguồn từ núi Hi-mã-lạp cho đến biển cả và đại dương, số lượng cát ở vào khoảng giữa ấy là vô số kể bằng cách tính đếm.
BJT 257Mặc dầu có thể tính toán toàn bộ số lượng cát ấy bằng cách tính đếm, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta.
BJT 258Trong khi đang được tồn tại ở dạng hạt nhỏ, cát của dòng sông có thể bị cạn kiệt, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta.
BJT 259Các làn sóng của biển cả là không thể ước lượng bằng cách tính đếm, tương tợ y như thế sẽ không có điểm tận cùng về trí tuệ của Sāriputta.
BJT 260Người này sẽ làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, sẽ đi đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu.
BJT 261Trong khi làm đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp, người này sẽ tiếp tục vận hành đúng đắn bánh xe Pháp đã được chuyển vận bởi người con trai dòng Sakya như thế ấy.
BJT 262Sau khi biết rõ tất cả điều này, đức Gotama bậc cao quý dòng Sakya sẽ ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”
BJT 263Ôi, việc làm đã khéo được thực hiện bởi tôi đến bậc Đạo Sư Anomadasasī! Sau khi thể hiện sự tôn kính đến vị ấy, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện.
BJT 264Việc làm đã được thực hiện ở vô lượng kiếp (trước đây) đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não (của tôi).
BJT 265Lúc bấy giờ, trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế không bị lay chuyển, trong lúc xem xét tất cả các ngoại đạo, tôi đã luân hồi ở cõi hữu.
BJT 266Cũng giống như người bị bệnh nên tìm kiếm phương linh dược, nên xem xét toàn bộ khu rừng nhằm thoát khỏi cơn bệnh.
BJT 267Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế Bất Tử, tôi đã xuất gia vào đời tu ẩn sĩ liên tục năm trăm kiếp sống.
BJT 268Tôi đã duy trì búi tóc bện, có y choàng là tấm da dê, tôi đã đạt đến sự toàn hảo của các thắng trí và đã đi đến thế giới Phạm Thiên.
BJT 269Ngoại trừ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, không có sự thanh tịnh ở ngoại giáo. Thật vậy, bất cứ chúng sanh nào có trí giác ngộ đều được trở nên thanh tịnh trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
BJT 270Pháp (thanh tịnh) này là sự tạo thành do hành động của bản thân, pháp này không là sự truyền tụng. Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác, tôi đã lai vãng bến bãi tồi tệ.
BJT 271Giống như người tầm cầu lõi cây, sau khi đốn ngã cây chuối rồi chẻ hai, không thể tìm thấy lõi cây ở nơi ấy bởi vì cây chuối là không có lõi.
BJT 272Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở thế gian và số đông người với những tà kiến khác nhau là vắng bóng Niết Bàn, giống như cây chuối là không có lõi.
BJT 273Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã là thân quyến của Phạm Thiên. Sau khi từ bỏ của cải lớn lao, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình
(Tụng Phẩm thứ nhất).
BJT 274Vị Bà-la-môn tên Sañjaya là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống dưới sự hướng dẫn của vị ấy.
BJT 275Bạch đấng Đại Hùng, vị Bà-la-môn tên Assaji là Thinh Văn của Ngài, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, khi ấy (đang) đi khất thực.
BJT 276Tôi đã nhìn thấy bậc hiền trí ấy, có trí tuệ, được định tĩnh trong sự sáng suốt, có tâm thanh tịnh, là bậc Long Tượng, tợ như đóa sen khéo được nở rộ.
BJT 277Sau khi nhìn thấy vị anh hùng ưu tú, cao quý, khéo được rèn luyện, có tâm ý thanh tịnh, tâm của tôi đã khởi lên rằng: “Phải chăng vị này là A-la-hán?
BJT 278Phải chăng con người đáng mến, biết cách xử trí, có dáng vóc lịch sự, khéo thu thúc, đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, là người nhìn thấy sự Bất Tử?
BJT 279Hay là ta nên hỏi về mục đích tối thượng với tâm ý hớn hở? Được ta hỏi, vị ấy sẽ trả lời. Khi ấy, ta hãy hỏi tiếp.”
BJT 280Trong khi vị ấy đang đi khất thực, tôi đã đi ở phía sau chờ đợi cơ hội để hỏi về vị thế Bất Tử.
BJT 281Khi vị ấy đi đến giữa đường, tôi đã đi đến gần và đã hỏi rằng: “Thưa vị anh hùng, ngài có dòng họ thế nào? Thưa ngài, ngài là học trò của vị nào?”
BJT 282Được tôi hỏi, vị ấy tợ như con sư tử không bị hãi sợ đã trả lời rằng: “Này đạo hữu, đức Phật đã xuất hiện ở thế gian, tôi là học trò của Ngài ấy.”
BJT 283“Thưa vị đại anh hùng, người nối dõi, bậc có danh vọng lớn lao, Giáo Pháp lời dạy của đức Phật của ngài là như thế nào? Thưa ngài, xin ngài hãy thuyết giảng tận tường cho tôi.”
BJT 284Được tôi hỏi, vị ấy đã thuyết giảng về toàn bộ Đạo Lộ thâm sâu vi tế, là pháp tiêu diệt mũi tên tham ái, có sự xua đi tất cả khổ đau (như vầy):
BJT 285“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
BJT 286Khi câu hỏi vừa được trả lời, tôi đây đã chứng đắc Quả vị thứ nhất. Sau khi lắng nghe lời dạy của đấng Chiến Thắng, tôi đã trở nên không còn vấy bụi, không còn nhơ bẩn.
BJT 287Sau khi lắng nghe lời nói của bậc hiền trí, sau khi nhìn thấy Giáo Pháp tối thượng, với Chánh Pháp đã được thâm nhập tôi đã nói lên lời kệ ngôn này:
BJT 288“Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã bị trôi qua trong hàng vạn kiếp sống.”
BJT 289Trong lúc tầm cầu Giáo Pháp, tôi đây đã lai vãng bến bãi tồi tệ. (Giờ đây) mục đích ấy của tôi đã đượcđạt đến, tôi không còn thời gian để xao lãng.
BJT 290Tôi đã được vị Assaji làm cho hoan hỷ. Sau khi đạt đến vị thế Bất Động, trong khi tìm kiếm người bạn, tôi đã đi đến khu ẩn cư.
BJT 291Sau khi nhìn thấy tôi ngay từ đàng xa, bạn của tôi, là người khéo được học tập và được thành tựu bốn oai nghi, đã nói lên lời nói này:
BJT 292“Bạn có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, dường như bản thể hiền trí đã được (bạn) nhìn thấy. Phải chăng bạn đã chứng đắc sự Bất Tử, Niết Bàn, vị thế trường cửu?
BJT 293Dường như bạn (đã) đạt đến điều xứng đáng với sự tốt đẹp và đã được làm cho trở thành điềm đạm, tợ như con voi đã được chế ngự trong giai đoạn thuần hóa. Này người Bà-la-môn, phải chăng bạn được an tịnh?”
BJT 294“Bất Tử là sự xua đi mũi tên sầu muộn đã được tôi chứng đắc. Bạn cũng vậy, hãy chứng đắc điều ấy. Chúng ta hãy đi đến gặp đức Phật.”
BJT 295Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay!” bạn của con là người khéo được học tập đã dùng tay nắm lấy tay con và đã đi đến gặp Ngài.
BJT 296Bạch người con trai dòng Sakya, cả hai chúng con cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của Ngài. Sau khi đi đến Giáo Pháp của Ngài, chúng con sống không còn lậu hoặc.
BJT 297Kolita là đứng đầu về thần thông, còn con có sự đạt đến bờ kia về trí tuệ. Chính cả hai chúng con đã hợp nhất làm rạng rỡ Giáo Pháp.
BJT 298Có ước nguyện chưa được hoàn thành, con đã lai vãng bến bãi tồi tệ. Sau khi đi đến diện kiến Ngài, ước nguyện của con đã được tròn đủ.
BJT 299Sau khi đã mọc vững vàng ở trên trái đất, các cây cối nở hoa lúc vào mùa. Chúng tỏa ra các hương thơm của cõi trời và làm cho tất cả chúng sinh được vui lòng.
BJT 300Bạch đấng Đại Hùng, bạch người con trai dòng Sakya có danh vọng lớn lao, tương tợ như thế ấy, sau khi đã thiết lập ở trong Giáo Pháp của Ngài, con tầm cầu thời điểm để trổ hoa.
BJT 301Trong lúc tầm cầu bông hoa giải thoát là việc ra khỏi sự luân hồi ở các cõi, với sự đạt được bông hoa giải thoát, con làm cho tất cả chúng sinh được vui lòng.
BJT 302Bạch đấng Hữu Nhãn, cho đến địa phận của chư Phật, không gì sánh bằng tuệ của người con trai của Ngài ngoại trừ bậc Hiền Trí.
BJT 303Được thuần phục trong sự thuần hóa tối thượng, những người học trò đã khéo được huấn luyện của Ngài và Hội Chúng đã khéo được học tập luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 304Là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, các bậc hiền trí được thành tựu sự tốt đẹp về đạo đức luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 305Là những bậc trí tuệ, ít đòi hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài lòng với việc có hay không có, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 306Là những bậc trí tuệ chuyên sống ở rừng, thông thạo pháp giũ bỏ (đầu đà), chứng thiền, mặc y thô, thỏa thích sự độc cư, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 307Là những vị thực hành (bốn Đạo) trú vào Quả vị (A-la-hán), và những vị Hữu Học có thành tựu Quả vị, các vị tầm cầu mục đích tối thượng luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 308Các vị là bậc Nhập Lưu không còn nhơ bẩn, các vị là bậc Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 309Các bậc Thinh Văn ấy, có nhiều vị được thiện xảo về các pháp thiết lập niệm, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, tất cả các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 310Các vị được thiện xảo về các nền tảng của thần thông, được thỏa thích trong việc tu tập định, được gắn bó vào chánh tinh tấn, luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 311Các vị có ba minh và sáu thắng trí, đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, đã đạt được sự toàn hảo về tuệ, luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 312Bạch đấng Đại Hùng, các vị học trò như thế ấy của Ngài đã khéo được học tập, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, luôn luôn tháp tùng Ngài.
BJT 313Được tháp tùng bởi những người học trò thu thúc, nhiệt tình ấy, Ngài tợ như (con sư tử) vua của loài thú không bị hãi sợ, tợ như (mặt trăng) vua của các vì sao chiếu sáng rực rỡ.
BJT 314Sau khi đã mọc vững vàng ở trên trái đất, các loài thảo mộc phát triển. Chúng đạt được sự lớn mạnh và phô bày sự kết trái.
BJT 315Bạch người con trai dòng Sakya có danh vọng lớn lao, Ngài là tương tợ trái đất. Sau khi thiết lập ở Giáo Pháp, các vị ấy đạt được quả vị Bất Tử.
BJT 316Có các con sông Sindhu, luôn cả sông Sarassatī, sông Candabhāgikā, sông Gaṅgā, sông Yamunā, luôn cả sông Sarabhū, và sông Mahī.
BJT 317Khi những con sông này trôi chảy và biển cả tiếp nhận, những con sông này từ bỏ tên gọi trước đây và chỉ được biết đến là ‘biển cả’ mà thôi.
BJT 318Tương tợ y như thế, bốn giai cấp này sau khi xuất gia trong sự chứng minh của Ngài, các vị từ bỏ tên gọi trước đây và được biết đến là ‘con trai của đức Phật.’
BJT 319Cũng giống như mặt trăng không bị vết nhơ trong lúc đang di chuyển ở bầu không gian thì vượt trội tất cả các quần thể tinh tú ở thế giới về ánh sáng.
BJT 320Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, được tháp tùng bởi chư Thiên và nhân loại, Ngài vượt lên trên tất cả các hạng này và chói sáng vào mọi lúc.
BJT 321Được khởi lên từ dưới sâu, sóng không thể vượt qua được bờ biển. Tất cả các đợt sóng chạm đến bờ biển thì chúng tan tác trở thành bọt nước.
BJT 322Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở trên thế gian và nhiều người với các quan điểm khác nhau có ý định nói về giáo lý, bọn họ không vượt qua Ngài là bậc Hiền Trí.
BJT 323Và bạch đấng Hữu Nhãn, nếu họ gặp Ngài xin Ngài hãy đáp lại. Sau khi đi đến gặp Ngài, những người ấy trở thành như là bọt nước
BJT 324Cũng giống như giống cây kumuda, cây mandālaka, và nhiều loài cây khác được sanh ra ở trong nước, chúng bị lấm nhơ bởi nước và bùn lầy.
BJT 325Tương tợ y như thế, nhiều chúng sanh được sanh ra lớn lên ở trên đời bị sầu khổ bởi tham ái sân hận giống như cây kumuda ở bãi bùn vậy.
BJT 326Cũng giống như đóa hoa sen là loài được sanh ra ở trong nước, lớn lên ở giữa làn nước, nó không bị lấm nhơ bởi nước, có tua nhị cũng được trong sạch.
BJT 327Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, bậc Đại Hiền Trí được sanh ra ở trên thế gian, Ngài không bị lấm nhơ bởi thế gian như là đóa hoa sen không bị lấm nhơ bởi nước.
BJT 328Cũng giống như nhiều loài hoa mọc trong nước trổ hoa vào tháng Rammaka, chúng không vượt quá tháng ấy, khi ấy là thời điểm của việc trổ hoa.
BJT 329Bạch người con trai dòng Sakya, Ngài đã trổ hoa bằng sự giải thoát, tương tợ y như thế các vị ấy (cũng vậy). Các học trò không vượt quá lời dạy như là đóa hoa sen là loài được sanh ra ở trong nước (không trổ hoa trễ thời hạn).
BJT 330Cây sālā chúa khéo được trổ hoa tỏa ra hương thơm của cõi trời. Được vây quanh bởi những cây sālā khác, cây sālā chúa tỏa sáng.
BJT 331Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế Ngài đã trổ hoa bằng trí tuệ của vị Phật. Được tháp tùng bởi Hội Chúng tỳ khưu, Ngài tỏa sáng như là cây sālā chúa.
BJT 332Cũng giống như núi Hi-mã-lạp bằng đá là nguồn dược liệu cho tất cả chúng sinh, là chốn cư ngụ của các loài rồng, các A-tu-la, và chư Thiên.
BJT 333Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế Ngài ví như nguồn dược liệu cho tất cả chúng sinh. Các vị có được ba minh, sáu thắng trí, và đã đi đến sự toàn hảo về thần thông (nhờ nương tựa vào Ngài).
BJT 334Bạch đấng Đại Hùng, được Ngài chỉ dạy với lòng bi mẫn, các vị ấy thỏa thích với sự thỏa thích trong Giáo Pháp, các vị sống theo lời dạy của Ngài.
BJT 335Giống như con sư tử, vua của loài thú, sau khi rời khỏi chỗ ngụ nó quan sát bốn phương và rống lên ba lần.
BJT 336Khi chúa của loài thú gầm thét, mọi thú vật đều kinh hoàng. Bởi vì nó có dòng dõi như thế, nó luôn luôn làm các loài thú run sợ.
BJT 337Bạch đấng Đại Hùng, khi Ngài thuyết Pháp thì trái đất rúng động, những ai có khả năng giác ngộ được giác ngộ, phe đảng của Ma Vương run sợ.
BJT 338Bạch đấng Đại Hiền Trí, khi Ngài thuyết Pháp tất cả các ngoại đạo run sợ, tợ như bầy chim quạ bay tán loạn, như là các con thú run sợ đối với (sư tử) chúa của loài thú.
BJT 339Những vị có đồ chúng ở trên thế gian được gọi là ‘các bậc thầy.’ Các vị ấy thuyết giảng đến đám đông học thuyết đã được tuần tự truyền thừa.
BJT 340Bạch đấng Đại Hùng, tuy nhiên Ngài không là như vậy. Ngài thuyết giảng Giáo Pháp đến các chúng sinh sau khi đã tự thân giác ngộ về các Chân Lý và toàn bộ các pháp thuộc về giác ngộ.
BJT 341Sau khi biết được tánh khí bộc lộ và tiềm ẩn, về sự mạnh và yếu của các quyền, sau khi hiểu rõ về tính chất có hay không có khả năng, Ngài thuyết Pháp tợ như là cơn mưa lớn (gào thét).
BJT 342343. Đám đông có các quan điểm khác nhau, trong khi đang suy xét, có thể ngồi đến tận cùng thế giới vũ trụ. Nhằm cắt đứt sự nghi hoặc ấy, bậc Hiền Trí vị thiện xảo về sự so sánh đối chiếu, sau khi biết được tâm của tất cả, Ngài cắt đứt sự nghi hoặc của chúng sinh ngay trong khi đang giảng giải về một câu hỏi.
BJT 344Trái đất là được tràn đầy bởi chính các vị như là Upatissa (Sāriputta). Chính tất cả các vị ấy, tay chắp lên, đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 345Trong khi ngợi ca đến trọn kiếp, họ đã ngợi ca về những đức hạnh khác nhau. Họ đã không thể nào ước lượng được, các đấng Như Lai là vô lượng.
BJT 346Giống như tôi đã ngợi ca đấng Chiến Thắng bằng sức mạnh của mình, trong khi ngợi ca đến một koṭi (mười triệu) kiếp họ cũng đã ca ngợi y như vậy
BJT 347Nếu có vị Thiên nhân hoặc người nào đó đã được học tập rành rẽ có ý định do lường (các đức hạnh ấy), vị ấy chỉ có thể gánh lấy nỗi phiền muộn mà thôi.
BJT 348Bạch người con trai dòng Sakya có danh vọng lớn lao, sau khi đã thiết lập ở trong Giáo Pháp của Ngài, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về tuệ, con sống không có lậu hoặc.
BJT 349Con hoàn toàn chế ngự các ngoại đạo, con vận hành Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Hôm nay con là vị Tướng Quân Chánh Pháp trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya.
BJT 350Việc làm đã được thực hiện ở vô lượng kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não (của tôi).
BJT 351Nếu người nào đó có thể mang vác vật nặng thường xuyên ở trên đầu, người ấy sẽ bị khổ sở bởi vật nặng, tương tợ như thế tôi phải gánh chịu các vật nặng.
BJT 352Trong khi đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, tôi đã luân hồi ở các cõi. Tôi đã chịu đựng gánh nặng của hữu giống như tôi đã phải nâng lên ngọn núi Neru.
BJT 353Và gánh nặng đã được tôi đặt xuống, các hữu đã được tôi hủy diệt, mọi việc cần làm trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya đã được làm xong.
BJT 354Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Cao Quý dòng Sakya, tôi là đứng đầu về tuệ, người sánh bằng tôi không tìm thấy.
BJT 355Được khéo thiện xảo về định, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông. Và hôm nay trong khi mong muốn tôi có thể biến hóa thành ngàn người.
BJT 356Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cho con. Con có được năng lực đối với sự an trú theo tuần tự, diệt (thọ tưởng) định là nơi an nghỉ của con.
BJT 357Thiên nhãn của con được thanh tịnh, con là thiện xảo về định, được gắn bó vào chánh tinh tấn, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ.
BJT 358Bởi vì pháp gì vị Thinh Văn cần phải đạt đến, toàn bộ tất cả đã được tôi thực hiện. Ngoại trừ đấng Bảo Hộ Thế Gian người sánh bằng tôi không tìm thấy.
BJT 359Được thiện xảo về việc thể nhập định, có sự đạt được nhanh chóng đối với các thiền giải thoát, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về các đức hạnh của vị Thinh Văn.
BJT 360Với đức hạnh tốt lành của vị Thinh Văn, với trí giác ngộ, do sự tôn kính đối với bậc Tối Thượng Nhân, với đức tin, tâm (của tôi) luôn luôn được gắn liền ở các việc thực hành Phạm hạnh.
BJT 361Như là con rắn có nọc độc đã được lấy đi, như là trâu rừng có sừng đã bị cắt lìa, có sự ngã mạn kiêu ngạo đã được quăng bỏ, tôi đến gần Hội Chúng với sự vô cùng tôn kính.
BJT 362Nếu trí tuệ của tôi là có hình dạng thì trái đất không thể sánh bằng, điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ của đứcThế Tôn Anomadassī.
BJT 363Tôi tiếp tục vận hành đúng đắn bánh xe Pháp đã được chuyển vận bởi người con trai dòng Sakya như thế ấy; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
BJT 364Vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu, mong rằng kẻ có ước muốn xấu xa, biếng nhác, có sự tinh tấn kém cỏi, ít học hỏi, có hành vi sai trái chớ đến gần tôi.
BJT 365Và mong rằng bậc nghe nhiều (học rộng), có sự sáng suốt, khéo được định tĩnh trong các giới, được gắn liền với sự tịnh lặng của tâm đứng (với tôi) dầu là (đứng) ở trên đầu.
BJT 366Tôi nói điều này với các vị là hết thảy chư đại đức đã tụ hội lại nơi đây, các vị chớ có ước muốn xấu xa, hãy tự hài lòng (với vật có được), có thiền chứng, luôn luôn thỏa thích trong thiền.
BJT 367Sau khi nhìn thấy vị Thinh Văn tên Assaji ấy lần đầu tiên, tôi đã trở nên không còn vấy bụi, không còn nhơ bẩn; bậc trí tuệ ấy là người thầy của tôi.
BJT 368Nhờ vào tác động của điều ấy, giờ đây tôi đã trở thành vị Tướng Quân Chánh Pháp. Sau khi đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 369Vị Thinh Văn tên Assaji ấy đã là người thầy của tôi. Vị ấy cư ngụ ở phương nào, tôi thực hiện việc nằm quay đầu (hướng về phương ấy).
BJT 370Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 371Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 372Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 373Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát (bốn Đạo và bốn Quả), và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sāriputta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sāriputta là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3-1. Sāriputtattheraapadānaṃ
3-1. The Apadāna of the Elder Sāriputta
3-1. Ký sự về Trưởng lão Sāriputta
Atha therāpadānaṃ suṇātha –
Then, listen to the Apadānas of the Elders.
Sau đây, hãy lắng nghe ký sự về các vị Trưởng lão —
141.
141.
141.
‘‘Himavantassa avidūre, lambako nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṃ, paṇṇasālā sumāpitā.
Not far from the Himavanta, there is a mountain named Lambaka; my hermitage was well-made there, a leaf-hut well-fashioned.
“Gần dãy Hy-mã-lạp, có ngọn núi tên là Lambaka. Am thất của tôi đã được làm tốt đẹp, cốc lá đã được tạo dựng khéo léo.
142.
142.
142.
‘‘Uttānakūlā nadikā, supatitthā manoramā;
Susuddhapuḷinākiṇṇā, avidūre mamassamaṃ.
Not far from my hermitage was a small river with shallow banks, good fords, and delightful, strewn with very pure sand.
“Gần am thất của tôi, có con sông nhỏ bờ thoai thoải, bến nước tốt đẹp, làm vui thích tâm hồn, và được phủ đầy bởi lớp cát rất trong sạch.
143.
143.
143.
‘‘Asakkharā apabbhārā, sādu appaṭigandhikā;
Sandatī nadikā tattha, sobhayantā mamassamaṃ.
Without gravel or steep inclines, with sweet water and no offensive odor, the small river flows there, beautifying my hermitage.
“Ở nơi ấy, con sông nhỏ không có sỏi đá, không có vực sâu, nước ngọt, không có mùi hôi, chảy trôi làm vẻ vang cho am thất của tôi.
144.
144.
144.
‘‘Kumbhīlā makarā cettha, susumārā † ca kacchapā;
Caranti nadiyā tattha, sobhayantā mamassamaṃ.
Crocodiles, makaras, porpoises, and tortoises move about there in the river, beautifying my hermitage.
“Tại nơi đây, các loài cá sấu, giao long, cá heo, và rùa đi lại ở trong sông, làm vẻ vang cho am thất của tôi.
145.
145.
145.
‘‘Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā † muñjarohitā;
Vaggaḷā † papatāyantā, sobhayanti † mamassamaṃ.
Pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñjarohita, and vaggaḷa fish, darting about, beautify my hermitage.
“Các loài cá pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñja, rohita, và cá trê nhảy tung tăng làm vẻ vang cho am thất của tôi.
146.
146.
146.
‘‘Ubho kūlesu nadiyā, pupphino phalino dumā;
Ubhato abhilambantā, sobhayanti † mamassamaṃ.
On both banks of the river, flowering and fruit-bearing trees, hanging down from both sides, beautify my hermitage.
“Trên cả hai bờ sông, các cây cối có hoa, có quả rủ cành xuống từ hai phía làm vẻ vang cho am thất của tôi.
147.
147.
147.
‘‘Ambā sālā ca tilakā, pāṭalī sinduvārakā †;
Dibbagandhā sampavanti, pupphitā mama assame.
Mango, sāl, and tilaka trees, pāṭalī and sinduvāraka trees; having bloomed in my hermitage, divine fragrances spread forth.
“Các cây xoài, cây sāla, cây tilaka, cây pāṭalī, cây sinduvāraka trổ hoa ở tại am thất của tôi, các hương thơm của chư Thiên tỏa ra ngào ngạt.
148.
148.
148.
‘‘Campakā saḷalā nīpā †, nāgapunnāgaketakā;
Dibbagandhā sampavanti, pupphitā mama assame.
Campaka, salaḷa, and nīpa trees, nāga, punnāga, and ketaka trees; having bloomed in my hermitage, divine fragrances spread forth.
“Các cây campaka, salaḷa, nīpa, nāga, punnāga, ketaka trổ hoa ở tại am thất của tôi, các hương thơm của chư Thiên tỏa ra ngào ngạt.
149.
149.
149.
‘‘Atimuttā asokā ca, bhaginīmālā ca pupphitā;
Aṅkolā bimbijālā † ca, pupphitā mama assame.
Atimutta, asoka, and bhaginīmālā are in bloom; aṅkola and bimbijāla are in bloom in my hermitage.
“Các cây atimuttā, cây asoka, và cây bhaginīmālā đã trổ hoa; các cây aṅkola và cây bimbijāla cũng đã trổ hoa ở tại am thất của tôi.
150.
150.
150.
‘‘Ketakā kandali † ceva, godhukā tiṇasūlikā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Ketaka and kandali flowers, godhuka and tiṇasūlikā flowers, spreading a divine fragrance, beautify my hermitage.
“Các cây ketaka, cây kandali, cây godhukā, cây tiṇasūlikā tỏa ra hương thơm của chư Thiên làm vẻ vang cho am thất của tôi.
151.
151.
151.
‘‘Kaṇikārā kaṇṇikā ca, asanā ajjunā bahū;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Kaṇikāra and kaṇṇikā flowers, asana and many ajjuna trees, spreading a divine fragrance, beautify my hermitage.
“Các cây kaṇikāra, cây kaṇṇikā, nhiều cây asana và ajjuna tỏa ra hương thơm của chư Thiên làm vẻ vang cho am thất của tôi.
152.
152.
152.
‘‘Punnāgā giripunnāgā, koviḷārā ca pupphitā;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Punnāga, giripunnāga, and koviḷāra trees, having bloomed, spread a divine fragrance and beautify my hermitage.
“Các cây punnāga, cây giripunnāga, và cây koviḷāra đã trổ hoa, tỏa ra hương thơm của chư Thiên làm vẻ vang cho am thất của tôi.
153.
153.
153.
‘‘Uddhālakā ca kuṭajā, kadambā vakulā bahū;
Dibbagandhaṃ sampavantā, sobhayanti mamassamaṃ.
Uddālaka and kuṭaja trees, kadamba and many vakula trees, spreading a divine fragrance, beautify my hermitage.
“Các cây uddālaka, cây kuṭaja, nhiều cây kadamba và vakula tỏa ra hương thơm của chư Thiên làm vẻ vang cho am thất của tôi.
154.
154.
154.
‘‘Āḷakā isimuggā ca, kadalimātuluṅgiyo;
Gandhodakena saṃvaḍḍhā, phalāni dhārayanti te.
Āḷaka and isimugga plants, plantains and citrons, nourished by fragrant water, bear their fruits.
“Các cây āḷaka, cây isimugga, cây chuối, cây thanh yên được tưới bằng nước thơm nên đã tăng trưởng và các cây ấy trổ ra các quả.
155.
155.
155.
‘‘Aññe pupphanti padumā, aññe jāyanti kesarī;
Aññe opupphā padumā, pupphitā taḷāke tadā.
Some lotuses bloom, others become mere stamens; some lotuses are without petals, while others in the pond were in bloom at that time.
“Khi ấy ở trong hồ, các hoa sen khác đang nở, các hoa sen khác chỉ còn nhụy, các hoa sen khác không còn cánh, (các loài hoa khác) cũng đang nở.
156.
156.
156.
‘‘Gabbhaṃ gaṇhanti padumā, niddhāvanti mulāḷiyo;
Siṃghāṭipattamākiṇṇā, sobhanti taḷāke tadā.
Lotuses form buds, lotus stalks spread out; clusters of lotuses, strewn with leaves, beautified the pond at that time.
“Khi ấy ở trong hồ, các hoa sen đang kết nụ, các ngó sen vươn ra, các bụi ấu phủ đầy lá trông thật huy hoàng.
157.
157.
157.
‘‘Nayitā ambagandhī ca, uttalī bandhujīvakā;
Dibbagandhā sampavanti, pupphitā taḷāke tadā.
Nayitā, ambagandhī, uttalī, and bandhujīvaka flowers, having bloomed in the pond at that time, spread divine fragrances.
“Khi ấy ở trong hồ, các cây nayitā, ambagandhī, uttalī, bandhujīvaka đang trổ hoa, các hương thơm của chư Thiên tỏa ra ngào ngạt.
158.
158.
158.
‘‘Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā muñjarohitā;
Saṃgulā maggurā † ceva, vasanti taḷāke tadā.
Pāṭhīna, pāvusa, balaja, and muñjarohita fish, as well as saṃgula and maggura fish, dwelt in the pond at that time.
“Khi ấy ở trong hồ, các loài cá pāṭhīna, pāvusa, balaja, muñja, rohita, và saṃgula, cả loài cá trê cũng sinh sống.
159.
159.
159.
‘‘Kumbhīlā susumārā ca, tantigāhā ca rakkhasā;
Oguhā † ajagarā ca, vasanti taḷāke tadā.
Crocodiles and porpoises, tantigāha creatures and water-sprites, oguha snakes and pythons, dwelt in the pond at that time.
“Khi ấy ở trong hồ, các loài cá sấu, cá heo, loài tantigāhā, các loài dạ-xoa, loài rắn oguha, và loài trăn cũng sinh sống.
160.
160.
160.
‘‘Pārevatā ravihaṃsā, cakkavākā nadīcarā;
Kokilā sukasāḷikā, upajīvanti taṃ saraṃ.
Doves, sun-geese, ruddy sheldrakes, and river-faring birds, cuckoos, parrots, and mynas subsisted on that lake.
“Các loài bồ câu, ngỗng trời, vịt trời, chim sống ở sông, chim cu, vẹt, và sáo sinh sống nhờ vào hồ ấy.
161.
161.
161.
‘‘Kukkutthakā kuḷīrakā, vane pokkharasātakā;
Dindibhā suvapotā ca, upajīvanti taṃ saraṃ.
Coucals, crabs, and forest-dwelling pokkharasātaka birds, ḍiṇḍibha birds and young parrots subsisted on that lake.
“Các loài chim kukkutthaka, loài cua, chim pokkharasātaka ở trong rừng, chim dindibha, và các con vẹt nhỏ sinh sống nhờ vào hồ ấy.
162.
162.
162.
‘‘Haṃsā koñcā mayūrā ca, kokilā tambacūḷakā †;
Pampakā jīvaṃjīvā ca, upajīvanti taṃ saraṃ.
Swans, cranes, and peacocks, cuckoos and red-crested cocks, pampaka birds and jīvaṃjīva birds subsisted on that lake.
“Các loài ngỗng, chim sếu, chim công, chim cu, gà mào đỏ, chim pampaka, và chim jīvaṃjīva sinh sống nhờ vào hồ ấy.
163.
163.
163.
‘‘Kosikā poṭṭhasīsā ca, kurarā senakā bahū;
Mahākāḷā ca sakuṇā, upajīvanti taṃ saraṃ.
Owls and poṭṭhasīsa birds, ospreys and many hawks, and great black birds subsisted on that lake.
“Các loài cú, chim poṭṭhasīsa, chim kurara, nhiều chim ưng, và các con chim lớn màu đen sinh sống nhờ vào hồ ấy.
164.
164.
164.
‘‘Pasadā ca varāhā ca, camarā gaṇḍakā bahū †;
Rohiccā sukapotā † ca, upajīvanti taṃ saraṃ.
Spotted deer and boars, yaks and many rhinoceroses, red deer and sukapota beasts subsisted on that lake.
“Các loài nai, heo rừng, bò Tây Tạng, nhiều con tê giác, loài hươu đỏ, và loài sukapota sinh sống nhờ vào hồ ấy.
165.
165.
165.
‘‘Sīhabyagghā ca dīpī ca, acchakokataracchakā;
Tidhā pabhinnamātaṅgā, upajīvanti taṃ saraṃ.
Lions and tigers, leopards, bears and hyenas, and elephants in the three stages of musth subsisted on that lake.
“Các loài sư tử, cọp, beo, gấu, linh cẩu, và các con voi đang trong kỳ động dục từ ba nơi sinh sống nhờ vào hồ ấy.
166.
166.
166.
‘‘Kinnarā vānarā ceva, athopi vanakammikā;
Cetā ca luddakā ceva, upajīvanti taṃ saraṃ.
Kinnaras and monkeys, and also forest workers, servants and hunters subsisted on that lake.
“Các loài khẩn-na-la, loài khỉ, và cả những người làm việc trong rừng, các người phục vụ, và cả những người thợ săn cũng sinh sống nhờ vào hồ ấy.
167.
167.
167.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhukā kāsumārayo †;
Dhuvaṃ phalāni dhārenti, avidūre mamassamaṃ.
Tinduka, piyāla, madhuka, and kāsumāra trees constantly bore fruit, not far from my hermitage.
“Các cây tinduka, piyāla, madhuka, kāsumāri luôn luôn mang quả ở nơi không xa am thất của tôi.”
168.
168.
168.
‘‘Kosambā † saḷalā nimbā †, sāduphalasamāyutā;
Dhuvaṃ phalāni dhārenti, avidūre mamassamaṃ.
Kosamba, salaḷa, and nimba trees, endowed with sweet fruits, constantly bore fruit not far from my hermitage.
Các cây kosamba, cây thông, cây nimba, đều sai quả ngọt; chúng luôn luôn trĩu quả, ở nơi không xa am thất của ta.
169.
169.
169.
‘‘Harītakā āmalakā, ambajambuvibhītakā;
Kolā bhallātakā billā, phalāni dhārayanti te.
Harītaka, āmalaka, mango, jambu, and vibhītaka trees; kola, bhallātaka, and belva trees—they bore fruits.
Các cây harītaka, āmalaka, xoài, trâm, vibhītaka; các cây kola, bhallātaka, billa, những cây ấy đều mang quả.
170.
170.
170.
‘‘Āluvā ca kaḷambā ca, biḷālītakkaḷāni ca;
Jīvakā sutakā ceva, bahukā mama assame.
Āluva and kaḷamba yams, biḷālī and takkaḷa plants, jīvaka and sutaka plants—these were plentiful in my hermitage.
Các cây āluvā, kaḷamba, biḷālī, và takkaḷa, cả jīvaka và sutaka, có rất nhiều trong am thất của ta.
171.
171.
171.
‘‘Assamassāvidūramhi, taḷākāsuṃ sunimmitā;
Acchodakā sītajalā, supatitthā manoramā.
Not far from the hermitage were well-fashioned ponds with clear water, cool water, good bathing places, and which were delightful.
Ở nơi không xa am thất, có những hồ nước được tạo tác khéo léo; nước trong, nước mát, bến nước tốt đẹp, và làm vui thích tâm hồn.
172.
172.
172.
‘‘Padumuppalasañchannā, puṇḍarīkasamāyutā;
Mandālakehi sañchannā, dibbagandho pavāyati.
Covered with red and blue lotuses, endowed with white lotuses, and covered with coral tree flowers, a divine fragrance wafted forth.
Hồ được bao phủ bởi sen hồng và sen xanh, cùng với sen trắng; được bao phủ bởi những cây mandālaka, hương thơm của chư thiên tỏa ngát.
173.
173.
173.
‘‘Evaṃ sabbaṅgasampanne, pupphite phalite vane;
Sukate assame ramme, viharāmi ahaṃ tadā.
Thus, in a forest complete in every aspect, blossoming and fruitful, in a well-made, delightful hermitage, I dwelt at that time.
Như vậy, trong khu rừng đầy đủ mọi yếu tố, có hoa, có quả; trong am thất khả ái, được xây dựng tốt đẹp, ta đã trú ngụ vào lúc ấy.
174.
174.
174.
‘‘Sīlavā vatasampanno †, jhāyī jhānarato sadā;
Pañcābhiññābalappatto, suruci nāma tāpaso.
I was the ascetic named Suruci, virtuous, accomplished in observances, a meditator ever delighting in jhāna, having attained the power of the five supernormal knowledges.
Ta là đạo sĩ tên Suruci, người có giới hạnh, thành tựu các hạnh nguyện, thường nhập thiền, luôn hoan hỷ trong thiền định, và đã đạt được năng lực của ngũ thông.
175.
175.
175.
‘‘Catuvīsasahassāni, sissā mayhaṃ upaṭṭhahu;
Sabbeva brāhmaṇā ete, jātimanto yasassino.
Twenty-four thousand disciples attended me; all of them were brahmins, of high birth and renown.
Hai mươi bốn ngàn đệ tử đã hầu hạ ta; tất cả họ đều là Bà-la-môn, thuộc dòng dõi cao quý và có danh tiếng.
176.
176.
176.
‘‘Lakkhaṇe itihāse ca, sanighaṇṭusakeṭubhe;
Padakā veyyākaraṇā, sadhamme pāramiṃ gatā.
They were masters of the science of marks and of legends, together with the Nighaṇṭu and Keṭubha treatises; they were experts in metrics and grammar, and had reached perfection in their own tradition.
Họ đã thông suốt tướng thuật và sử thi, cùng với từ vựng và nghi lễ; họ là những nhà phân tích từ ngữ, những nhà ngữ pháp, và đã đạt đến sự toàn hảo trong giáo pháp của mình.
177.
177.
177.
‘‘Uppātesu nimittesu, lakkhaṇesu ca kovidā;
Pathabyā bhūmantalikkhe, mama sissā susikkhitā.
My disciples were well-trained and skilled in portents, omens, and signs on the earth, the ground, and in the sky.
Các đệ tử của ta, được giáo huấn tốt đẹp, đã tinh thông về các điềm báo, các dấu hiệu, và các tướng; cũng như các sự việc trên mặt đất, trong thế gian, và trên không trung.
178.
178.
178.
‘‘Appicchā nipakā ete, appāhārā alolupā;
Lābhālābhena santuṭṭhā, parivārenti maṃ sadā.
Of few wishes, prudent, eating little, not greedy, and content with gain or loss, they always surrounded me.
Họ là những người ít ham muốn, có trí tuệ, ăn uống ít, không tham lam; hài lòng với được và mất, họ luôn luôn vây quanh ta.
179.
179.
179.
‘‘Jhāyī jhānaratā dhīrā, santacittā samāhitā;
Ākiñcaññaṃ patthayantā, parivārenti maṃ sadā.
Meditative, delighting in jhāna, wise, with tranquil minds, and composed, aspiring to the state of nothingness, they always surround me.
Họ là những người thường nhập thiền, hoan hỷ trong thiền định, bậc hiền trí, có tâm tĩnh lặng, có tâm định tĩnh; mong cầu trạng thái vô sở hữu, họ luôn luôn vây quanh ta.
180.
180.
180.
‘‘Abhiññāpāramippattā, pettike gocare ratā;
Antalikkhacarā dhīrā, parivārenti maṃ sadā.
Having reached the perfection of the higher knowledges, delighting in their paternal domain, these wise sky-farers always surround me.
Họ đã đạt đến sự toàn hảo của các thần thông, hoan hỷ trong cảnh giới của tổ phụ; những bậc hiền trí đi lại trên không trung, họ luôn luôn vây quanh ta.
181.
181.
181.
‘‘Saṃvutā chasu dvāresu, anejā rakkhitindriyā;
Asaṃsaṭṭhā ca te dhīrā, mama sissā durāsadā.
Restrained in the six sense-doors, unshaken, with faculties guarded, those wise ones remain unassociated; my disciples are hard to assail.
Họ phòng hộ sáu căn môn, không còn ái dục, bảo vệ các căn; những bậc hiền trí ấy không giao du, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
182.
182.
182.
‘‘Pallaṅkena nisajjāya, ṭhānacaṅkamanena ca;
Vītināmenti te rattiṃ, mama sissā durāsadā.
By sitting cross-legged, and by standing and walking, they spend the night; my disciples are hard to assail.
Họ trải qua đêm dài bằng cách ngồi kiết-già, bằng cách đứng và kinh hành; các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
183.
183.
183.
‘‘Rajanīye na rajjanti, dussanīye na dussare;
Mohanīye na muyhanti, mama sissā durāsadā.
They are not impassioned by what is alluring, they do not resent what is repelling, and they are not deluded by what is deluding; my disciples are hard to assail.
Họ không tham đắm trong những gì đáng tham đắm, không sân hận trong những gì đáng sân hận; không si mê trong những gì đáng si mê, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
184.
184.
184.
‘‘Iddhiṃ vīmaṃsamānā te, vattanti niccakālikaṃ;
Pathaviṃ † te pakampenti, sārambhena durāsadā.
Investigating their psychic power, they constantly exercise it; with their forcefulness, they shake the earth, being hard to assail.
Khi muốn khảo nghiệm thần thông, họ luôn luôn thực hành; họ làm rung chuyển trái đất, do sự mãnh liệt của mình, họ thật khó tiếp cận.
185.
185.
185.
‘‘Kīḷamānā ca te sissā, kīḷanti jhānakīḷitaṃ;
Jambuto phalamānenti, mama sissā durāsadā.
And those disciples, while playing, play the jhāna-play; they bring fruit from the Jambu tree. My disciples are difficult to assail.
Và khi các đệ tử ấy vui đùa, họ vui đùa với trò chơi thiền định; họ mang về quả từ cây diêm-phù-đề, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
186.
186.
186.
‘‘Aññe gacchanti goyānaṃ, aññe pubbavidehakaṃ †;
Aññe ca uttarakuruṃ, esanāya durāsadā.
Some go to Aparagoyāna in search of sustenance, others to Pubbavideha, and still others to Uttarakuru; they are hard to assail.
Để tìm kiếm vật thực, những vị khó tiếp cận ấy, một số đi đến Ngưu Hóa Châu, một số đến Thắng Thần Châu; và một số khác đến Câu Lô Châu.
187.
187.
187.
‘‘Purato pesenti khāriṃ, pacchato ca vajanti te;
Catuvīsasahassehi, chāditaṃ hoti ambaraṃ.
They send their carrying-poles with requisites ahead, and they themselves follow behind; the sky is covered by the twenty-four thousand.
Họ gửi các vật dụng của đạo sĩ đi trước, và họ đi theo sau; bầu trời bị che phủ bởi hai mươi bốn ngàn vị.
188.
188.
188.
‘‘Aggipākī anaggī ca, dantodukkhalikāpi ca;
Asmena koṭṭitā keci, pavattaphalabhojanā.
Some eat food cooked with fire, and some eat uncooked food; some eat what is ground by their teeth, and some what is pounded in a mortar; some eat what is crushed with a stone, and some eat only fallen fruit.
Một số ăn đồ nấu bằng lửa, và một số không ăn đồ nấu bằng lửa, một số dùng răng, và một số dùng cối nhỏ; một số giã bằng đá, một số ăn quả tự rụng.
189.
189.
189.
‘‘Udakorohaṇā keci, sāyaṃ pāto sucīratā;
Toyābhisecanakarā, mama sissā durāsadā.
Some, delighting in purity, descend into the water in the evening and morning; some perform ablutions with water; my disciples are hard to assail.
Một số vị, hoan hỷ trong sự thanh tịnh, xuống nước vào buổi chiều và buổi sáng; một số thực hành việc tắm gội, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
190.
190.
190.
‘‘Parūḷhakacchanakhalomā, paṅkadantā rajassirā;
Gandhitā sīlagandhena, mama sissā durāsadā.
With overgrown armpit hair, nails, and body hair, with mud-caked teeth and dust-covered heads; perfumed with the fragrance of virtue, my disciples are hard to assail.
Họ có lông nách, móng tay, và lông tóc mọc dài, răng dính bẩn, đầu dính bụi; nhưng tỏa ngát hương giới hạnh, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
191.
191.
191.
‘‘Pātova sannipatitvā, jaṭilā uggatāpanā;
Lābhālābhaṃ pakittetvā, gacchanti ambare tadā.
Having assembled in the morning, the matted-hair ascetics of fierce austerity, after announcing their gain and non-gain, then travel through the sky.
Các vị bện tóc, những người khổ hạnh nghiêm khắc, tụ họp vào buổi sáng; sau khi kể về được và mất, họ liền bay đi trên không trung.
192.
192.
192.
‘‘Etesaṃ pakkamantānaṃ, mahāsaddo pavattati;
Ajinacammasaddena, muditā honti devatā.
As they depart, a great sound arises; from the sound of their deerskin garments, the devas are gladdened.
Khi họ bay đi, một tiếng động lớn phát sinh; do tiếng động của y da thú, chư thiên trở nên hoan hỷ.
193.
193.
193.
‘‘Disodisaṃ pakkamanti, antalikkhacarā isī;
Sake balenupatthaddhā, te gacchanti yadicchakaṃ.
The sky-faring sages depart to all directions; supported by their own power, they go wherever they wish.
Các vị tiên, những người đi trên không trung, bay đi khắp mọi phương hướng; được nâng đỡ bởi năng lực của chính mình, họ đi đến bất cứ nơi nào họ muốn.
194.
194.
194.
‘‘Pathavīkampakā ete, sabbeva nabhacārino;
Uggatejā duppasahā, sāgarova akhobhiyā.
These are earth-shakers, all of them sky-farers; of fierce power and hard to withstand, they are imperturbable like the ocean.
Họ có thể làm rung chuyển trái đất, tất cả đều đi trên bầu trời; họ có uy lực mãnh liệt, khó bị chế ngự, không thể bị khuấy động như đại dương.
195.
195.
195.
‘‘Ṭhānacaṅkamino keci, keci nesajjikā isī;
Pavattabhojanā keci, mama sissā durāsadā.
Some sages practice only standing and walking; some practice the sitter's observance; some eat only fallen fruit; my disciples are hard to assail.
Một số vị tiên thực hành đứng và kinh hành, một số thực hành hạnh không nằm; một số ăn quả tự rụng, các đệ tử của ta thật khó tiếp cận.
196.
196.
196.
‘‘Mettāvihārino ete, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Anattukkaṃsakā sabbe, na te vambhenti kassaci.
These abide in loving-kindness, seeking the welfare of all beings; none of them exalt themselves, and they do not disparage anyone.
Họ là những người trú trong tâm từ, tìm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh; tất cả họ không tự tán dương mình, và họ không khinh chê bất cứ ai.
197.
197.
197.
‘‘Sīharājāvasambhītā, gajarājāva thāmavā;
Durāsadā byagghāriva, āgacchanti mamantike.
Fearless like lion kings, powerful like elephant kings, and hard to assail like tigers, they come into my presence.
Không sợ hãi như vua sư tử, mạnh mẽ như vua voi; khó tiếp cận như cọp, họ đến gần bên ta.
198.
198.
198.
‘‘Vijjādharā devatā ca, nāgagandhabbarakkhasā;
Kumbhaṇḍā dānavā garuḷā, upajīvanti taṃ saraṃ.
Vijjādharas, devas, nāgas, gandhabbas, and rakkhasas; Kumbhāṇḍas, dānavas, and garuḷas subsist on that lake.
“Các vị phù chú sư và chư Thiên, các loài rồng, càn-thát-bà, dạ-xoa, các loài cưu-bàn-trà, a-tu-la, chim ca-lâu-la, đều sống nương nhờ vào hồ nước ấy.
199.
199.
199.
‘‘Te jaṭākhāribharitā, ajinuttaravāsanā;
Antalikkhacarā sabbe, upajīvanti taṃ saraṃ.
They, burdened with matted hair and the ascetic's requisites, wearing upper garments of deerskin, all traveling through the sky, subsist on that lake.
“Các vị ấy có bối tóc và mang theo đồ dùng, khoác da thú đen làm y phục phía trên; tất cả đều đi lại trên hư không, sống nương nhờ vào hồ nước ấy.
200.
200.
200.
‘‘Sadānucchavikā † ete, aññamaññaṃ sagāravā;
Catubbīsasahassānaṃ, khipitasaddo na vijjati.
These are always of suitable conduct, respectful to one another; among the twenty-four thousand, the sound of a sneeze is not found.
“Các vị này luôn có hạnh kiểm thích hợp, kính trọng lẫn nhau; trong số hai mươi bốn ngàn vị, không có tiếng hắt hơi.
201.
201.
201.
‘‘Pāde pādaṃ nikkhipantā, appasaddā susaṃvutā;
Upasaṅkamma sabbeva †, sirasā vandare mamaṃ.
Placing a foot in the footprint of another, making little sound and with well-guarded senses, all of them, having approached, bowed to me with their heads.
“Bước chân theo dấu chân, ít tiếng động, các căn được phòng hộ kỹ lưỡng; tất cả các vị ấy đều đến gần và cúi đầu đảnh lễ tôi.
202.
202.
202.
‘‘Tehi sissehi parivuto, santehi ca tapassibhi;
Vasāmi assame tattha, jhāyī jhānarato ahaṃ.
Surrounded by those disciples, who are peaceful and ascetics, I dwell in that hermitage, a meditator delighting in jhāna.
“Được các đệ tử ấy, những người an tịnh và tu khổ hạnh, vây quanh, tôi sống trong am thất ấy, là người thường nhập thiền và ưa thích thiền định.
203.
203.
203.
‘‘Isīnaṃ sīlagandhena, pupphagandhena cūbhayaṃ;
Phalīnaṃ phalagandhena, gandhito hoti assamo.
By the fragrance of the sages' virtue and by the fragrance of flowers—by both—and by the fragrance of the fruits of fruit-bearing trees, the hermitage is made fragrant.
“Am thất tỏa hương thơm ngát bởi hương giới đức của các vị ẩn sĩ và hương hoa, cả hai loại hương, và bởi hương trái cây của các cây có quả.
204.
204.
204.
‘‘Rattindivaṃ na jānāmi, arati me na vijjati;
Sake sisse ovadanto, bhiyyo hāsaṃ labhāmahaṃ.
I do not know night from day; there is no discontent in me. Instructing my own disciples, I obtain even greater joy.
“Tôi không biết đến ngày đêm, tôi không có sự bất mãn; khi giáo huấn các đệ tử của mình, tôi càng thêm hoan hỷ.
205.
205.
205.
‘‘Pupphānaṃ pupphamānānaṃ, phalānañca vipaccataṃ;
Dibbagandhā pavāyanti, sobhayantā mamassamaṃ.
Of the blooming flowers and of the ripening fruits, divine fragrances waft, beautifying my hermitage.
“Hương thơm của chư thiên từ những bông hoa đang nở và những quả cây đang chín tỏa ra, làm đẹp cho am thất của tôi.
206.
206.
206.
‘‘Samādhimhā vuṭṭhahitvā, ātāpī nipako ahaṃ;
Khāribhāraṃ gahetvāna, vanaṃ ajjhogahiṃ ahaṃ.
Having arisen from concentration, I, being ardent and prudent, took up my carrying-pole with its baskets and entered the forest.
“Sau khi xuất khỏi định, tôi, người có sự tinh tấn và trí tuệ, đã cầm lấy gánh đồ dùng và đi vào rừng.
207.
207.
207.
‘‘Uppāte supine cāpi, lakkhaṇesu susikkhito;
Pavattamānaṃ † mantapadaṃ, dhārayāmi ahaṃ tadā.
Well-trained in portents, dreams, and also in characteristics, I then bore in mind the occurring mantra-verses.
“Tôi, người đã học kỹ về điềm báo, giấc mơ, và tướng số, khi ấy đã ghi nhớ các câu thần chú hiện hành.
208.
208.
208.
‘‘Anomadassī bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Vivekakāmo sambuddho, himavantamupāgami.
The Blessed One Anomadassī, eldest in the world, bull among men, the Sambuddha, desiring seclusion, approached the Himālaya.
“Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Tối Thượng trong đời, bậc Ngưu Vương trong loài người, bậc Chánh Đẳng Giác ưa thích sự vắng lặng, đã đi đến Hy-mã-lạp sơn.
209.
209.
209.
‘‘Ajjhogāhetvā himavantaṃ, aggo kāruṇiko muni;
Pallaṅkaṃ ābhujitvāna, nisīdi purisuttamo.
Having entered the Himālaya, the supreme, compassionate Sage, the highest of men, sat down, having folded his legs crosswise.
“Sau khi đi sâu vào Hy-mã-lạp sơn, bậc Tối Thượng, bậc Mâu-ni đầy lòng bi mẫn, bậc Tối Thượng Nhân, đã ngồi kiết-già và an tọa.
210.
210.
210.
‘‘Tamaddasāhaṃ sambuddhaṃ, sappabhāsaṃ manoramaṃ;
Indīvaraṃva jalitaṃ, ādittaṃva hutāsanaṃ.
I saw that Sambuddha, radiant and delightful, blazing like a blue lotus, like a blazing fire.
“Tôi đã thấy vị Chánh Đẳng Giác ấy, rực rỡ hào quang, đẹp lòng, sáng chói như hoa sen xanh, bừng cháy như ngọn lửa.
211.
211.
211.
‘‘Jalantaṃ dīparukkhaṃva, vijjutaṃ gagaṇe yathā;
Suphullaṃ sālarājaṃva, addasaṃ lokanāyakaṃ.
I saw the Leader of the World, blazing like a lamp-tree, like lightning flashing in the sky, like a fully blossomed Sāla king.
“Tôi đã thấy bậc Lãnh Đạo thế gian, sáng chói như cây đèn, như tia chớp lóe trên bầu trời, như cây sa-la vương nở rộ.
212.
212.
212.
‘‘Ayaṃ nāgo mahāvīro, dukkhassantakaro muni;
Imaṃ dassanamāgamma, sabbadukkhā pamuccare.
This Sage is a Nāga, a great hero, an ender of suffering. On account of seeing him, beings are freed from all suffering.
‘Vị Mâu-ni này là bậc Long Tượng, bậc Đại Hùng, người chấm dứt khổ đau. Nhờ thấy được vị này, chúng sanh được giải thoát khỏi mọi khổ đau.’
213.
213.
213.
‘‘Disvānāhaṃ devadevaṃ, lakkhaṇaṃ upadhārayiṃ;
Buddho nu kho na vā buddho, handa passāmi cakkhumaṃ.
Having seen the god of gods, I examined his marks: ‘Is he truly a Buddha, or is he not a Buddha? Come now, I shall look at the one endowed with vision.’
“Sau khi thấy bậc Thiên Nhân Sư, tôi đã xem xét các tướng: ‘Có phải là Phật hay không phải là Phật?’ Nào, ta hãy nhìn xem bậc có Thiên Nhãn.
214.
214.
214.
‘‘Sahassārāni cakkāni, dissanti caraṇuttame;
Lakkhaṇānissa disvāna, niṭṭhaṃ gacchiṃ tathāgate.
Thousand-spoked wheels were seen on his supreme feet; having seen his marks, I came to a conclusion regarding the Tathāgata.
“Các bánh xe có ngàn căm hiện rõ trên bàn chân cao quý. Sau khi thấy các tướng của Ngài, tôi đã đi đến kết luận về bậc Như Lai (rằng Ngài là Phật).
215.
215.
215.
‘‘Sammajjaniṃ gahetvāna, sammajjitvānahaṃ tadā;
Atha pupphe samānetvā, buddhaseṭṭhaṃ apūjayiṃ.
Having taken a broom, I then swept. Then, having gathered flowers, I paid homage to the best of Buddhas.
“Khi ấy, tôi cầm lấy chổi, sau khi quét dọn, rồi thu gom hoa và cúng dường đến bậc Tối Thắng Giác.
216.
216.
216.
‘‘Pūjayitvāna taṃ buddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ;
Ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā, namassiṃ lokanāyakaṃ.
Having paid homage to that Buddha, who has crossed the floods and is free from taints, I placed my deerskin over one shoulder and bowed to the Leader of the World.
“Sau khi cúng dường Đức Phật ấy, người đã vượt qua bộc lưu, bậc Vô Lậu, tôi vắt tấm da thú qua một bên vai và đảnh lễ bậc Lãnh Đạo thế gian.
217.
217.
217.
‘‘Yena ñāṇena sambuddho, viharati † anāsavo;
Taṃ ñāṇaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
By which knowledge the Sambuddha dwells free from taints, that knowledge I shall praise. Listen to my words as I speak.
“Với trí tuệ nào mà bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Vô Lậu, an trú, trí tuệ ấy tôi sẽ tán thán. Xin hãy lắng nghe lời tôi nói.
218.
218.
218.
‘‘‘Samuddharasimaṃ † lokaṃ, sayambhū amitodaya;
Tava dassanamāgamma, kaṅkhāsotaṃ taranti te.
‘You rescue this world, O Self-become One of immeasurable glory! On account of seeing you, they cross the stream of doubt.’
“‘Ngài cứu vớt thế gian này, hỡi bậc Tự Giác, bậc có sự tăng trưởng vô lượng. Nhờ thấy được Ngài, họ vượt qua dòng sông hoài nghi.
219.
219.
219.
‘‘‘Tuvaṃ satthā ca ketu ca, dhajo yūpo ca pāṇinaṃ;
Parāyaṇo † patiṭṭhā ca, dīpo ca dvipaduttamo.
‘You are the Teacher, the banner, the flag, and the sacrificial post for beings; the final resort, the support, the island, and the highest of bipeds.’
“‘Ngài là bậc Đạo Sư, là ngọn cờ hiệu, là lá cờ, là cột trụ của chúng sanh; là nơi nương tựa, là chỗ đứng vững, là hòn đảo, hỡi bậc Tối Thượng trong loài hai chân.
220.
220.
220.
‘‘‘Sakkā samudde udakaṃ, pametuṃ āḷhakena vā;
Na tveva tava sabbaññu, ñāṇaṃ sakkā pametave.
‘It might be possible to measure the water in the ocean with an āḷhaka measure, but it is never possible, O All-Knowing One, to measure your knowledge.’
“‘Có thể đo lường nước trong đại dương bằng đấu āḷhaka, nhưng trí tuệ của Ngài, hỡi bậc Toàn Tri, thì không thể nào đo lường được.
221.
221.
221.
‘‘‘Dhāretuṃ pathaviṃ sakkā, ṭhapetvā tulamaṇḍale;
Na tveva tava sabbaññu, ñāṇaṃ sakkā dharetave.
‘It might be possible to weigh the earth, having placed it on a balance, but it is never possible, O All-Knowing One, to weigh your knowledge.’
“‘Có thể đặt trái đất lên bàn cân và cân được, nhưng trí tuệ của Ngài, hỡi bậc Toàn Tri, thì không thể nào cân được.
222.
222.
222.
‘‘‘Ākāso minituṃ sakkā, rajjuyā aṅgulena vā;
Na tveva tava sabbaññu, ñāṇaṃ sakkā pametave.
‘It might be possible to measure the sky with a rope or with a finger, but it is never possible, O All-Knowing One, to measure your knowledge.’
“‘Có thể đo lường hư không bằng dây hoặc bằng ngón tay, nhưng trí tuệ của Ngài, hỡi bậc Toàn Tri, thì không thể nào đo lường được.
223.
223.
223.
‘‘‘Mahāsamudde udakaṃ, pathavī cākhilā jaṭaṃ †;
Buddhañāṇaṃ upādāya, upamāto na yujjare.
‘The water in the great ocean, the entire earth, and the sky—with respect to the Buddha's knowledge, they are not suitable as a comparison.’
“‘Nước trong đại dương, toàn thể trái đất, và hư không, khi so sánh với trí tuệ của Đức Phật, đều không thích hợp để làm ví dụ.
224.
224.
224.
‘‘‘Sadevakassa lokassa, cittaṃ yesaṃ pavattati;
Antojālīkatā † ete, tava ñāṇamhi cakkhuma.
‘Whatever minds arise for beings in this world with its devas, they are all caught within the net of your knowledge, O One with Vision.’
“‘Tâm của những chúng sanh nào khởi lên trong thế giới cùng với chư thiên, hỡi bậc có Thiên Nhãn, tất cả họ đều nằm trong lưới trí tuệ của Ngài.
225.
225.
225.
‘‘‘Yena ñāṇena pattosi, kevalaṃ bodhimuttamaṃ;
Tena ñāṇena sabbaññu, maddasī paratitthiye’.
‘By which knowledge you attained the supreme, complete enlightenment, by that same knowledge, O All-Knowing One, you subdue the other sectarians.’
“‘Với trí tuệ nào mà Ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng, trọn vẹn, hỡi bậc Toàn Tri, với chính trí tuệ ấy, Ngài đã nhiếp phục các ngoại đạo’.
226.
226.
226.
‘‘Imā gāthā thavitvāna, suruci nāma tāpaso;
Ajinaṃ pattharitvāna, pathaviyaṃ nisīdi so.
Having praised him with these verses, the ascetic named Suruci, having spread out his deerskin, sat down on the ground.
Sau khi tán thán bằng những câu kệ này, vị ẩn sĩ tên là Suruci đã trải tấm da thú ra và ngồi xuống trên mặt đất.
227.
227.
227.
‘‘Cullāsītisahassāni, ajjhogāḷho mahaṇṇave;
Accugato tāvadeva, girirājā pavuccati.
Eighty-four thousand yojanas it is plunged into the great ocean; to that same extent, it is said, the king of mountains rises up.
Vua núi (Meru) được cho là chìm tám mươi bốn ngàn (do-tuần) trong đại dương, và nhô lên cao cũng chừng ấy.
228.
228.
228.
‘‘Tāva accuggato neru, āyato vitthato ca so;
Cuṇṇito aṇubhedena, koṭisatasahassaso †.
That Mount Meru is so high, so long, and so wide. If pulverized into fine particles, it would number a hundred thousand crores.
Núi Meru cao, dài, và rộng chừng ấy; một trăm ngàn koṭi (núi như thế) được nghiền mịn thành bột.
229.
229.
229.
‘‘Lakkhe ṭhapiyamānamhi, parikkhayamagacchatha;
Na tveva tava sabbaññu, ñāṇaṃ sakkā pametave.
If a mark were placed for each particle, the dust would be exhausted; but truly, O All-Knowing One, your knowledge cannot be measured.
Khi được đặt trong sự so sánh (một trí tuệ, một hạt bụi), thì bụi sẽ đi đến chỗ cạn kiệt; hỡi bậc Toàn Giác, quả thật không thể nào đo lường được trí tuệ của Ngài.
230.
230.
230.
‘‘Sukhumacchikena jālena, udakaṃ yo parikkhipe;
Ye keci udake pāṇā, antojālīkatā siyuṃ.
Just as one who might encompass water with a fine-meshed net, whatever living beings are in the water would be enclosed within that net.
Ví như người nào dùng lưới mắt nhỏ bao phủ nước, tất cả chúng sanh nào ở trong nước đều bị lọt vào bên trong lưới.
231.
231.
231.
‘‘Tatheva hi mahāvīra, ye keci puthutitthiyā;
Diṭṭhigahanapakkhandā †, parāmāsena mohitā.
Just so indeed, O Great Hero, are whatever various sectarians there are, who have plunged into the thicket of wrong views, deluded by wrong grasping.
Cũng như thế, hỡi bậc Đại Hùng, có rất nhiều ngoại đạo, những người đi vào rừng rậm tà kiến, bị mê mờ bởi sự chấp thủ sai lầm.
232.
232.
232.
‘‘Tava suddhena ñāṇena, anāvaraṇadassinā;
Antojālīkatā ete, ñāṇaṃ te nātivattare.
By your pure knowledge, which sees without obstruction, these are brought within the net; they cannot surpass your knowledge.
Với trí tuệ thanh tịnh, thấy không chướng ngại của Ngài, tất cả những người ấy đều bị lọt vào trong lưới (trí tuệ); họ không thể vượt qua được trí tuệ của Ngài.
233.
233.
233.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, anomadassī mahāyaso;
Vuṭṭhahitvā samādhimhā, disaṃ olokayī jino.
At that time, the Blessed One Anomadassī, of great renown, the Conqueror, having arisen from concentration, surveyed the directions.
Vào lúc ấy, Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc có danh tiếng lớn, sau khi xuất khỏi thiền định, bậc Chiến Thắng đã nhìn khắp các phương.
234.
234.
234.
‘‘Anomadassimunino, nisabho nāma sāvako;
Parivuto satasahassehi, santacittehi tādibhi.
Of the sage Anomadassī, there was a disciple named Nisabha, surrounded by a hundred thousand such ones with serene minds.
Vị đệ tử của Đức Phật Anomadassī tên là Nisabha, được vây quanh bởi một trăm ngàn vị có tâm tĩnh lặng, có phẩm chất như vậy.
235.
235.
235.
‘‘Khīṇāsavehi suddhehi, chaḷabhiññehi jhāyibhi;
Cittamaññāya buddhassa, upesi lokanāyakaṃ.
With those whose cankers were destroyed, who were pure, possessed the six supernormal knowledges, and were meditators, he, having understood the Buddha's mind, approached the leader of the world.
Những vị đã tận lậu, thanh tịnh, có sáu thắng trí, thường nhập thiền; (vị ấy) biết được tâm ý của Đức Phật, đã đến gần bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
236.
236.
236.
‘‘Antalikkhe ṭhitā tattha, padakkhiṇamakaṃsu te;
Namassantā pañjalikā, otaruṃ † buddhasantike.
Standing there in the sky, they circumambulated him to the right; paying homage with hands joined in reverence, they descended into the presence of the Buddha.
Đứng trên hư không tại đó, các vị ấy đã đi nhiễu bên phải. Vừa chắp tay đảnh lễ, các vị ấy vừa hạ xuống gần Đức Phật.
237.
237.
237.
‘‘Anomadassī bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisiditvā, sitaṃ pātukarī jino.
The Blessed One Anomadassī, foremost in the world, a bull among men, having sat down in the assembly of monks, the Conqueror made a smile manifest.
Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi ngồi xuống giữa Tăng chúng, bậc Chiến Thắng đã mỉm cười.
238.
238.
238.
‘‘Varuṇo nāmupaṭṭhāko, anomadassissa satthuno;
Ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā, apucchi lokanāyakaṃ.
The attendant named Varuṇa, of the Teacher Anomadassī, having arranged his robe over one shoulder, asked the leader of the world:
Vị thị giả của Đức Đạo Sư Anomadassī tên là Varuṇa, sau khi vắt y qua một bên vai, đã hỏi bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
239.
239.
239.
‘‘‘Ko nu kho bhagavā hetu, sitakammassa satthuno;
Na hi buddhā ahetūhi, sitaṃ pātukaronti te’.
‘What, indeed, O Blessed One, is the cause for the Teacher's act of smiling? For Buddhas do not make a smile manifest without a cause.’
‘Bạch Đức Thế Tôn, nguyên nhân của việc Đức Đạo Sư mỉm cười là gì? Vì rằng chư Phật không mỉm cười mà không có nguyên nhân.’
240.
240.
240.
‘‘Anomadassī bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhumajjhe nisīditvā, imaṃ gāthaṃ abhāsatha.
The Blessed One Anomadassī, foremost in the world, a bull among men, having sat down in the midst of the monks, spoke this verse:
Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi ngồi giữa chúng Tỳ khưu, đã nói bài kệ này.
241.
241.
241.
‘‘‘Yo maṃ pupphena pūjesi, ñāṇañcāpi anutthavi;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇotha mama bhāsato.
‘The ascetic who worshipped me with flowers and also praised my knowledge, I shall proclaim about him; listen to me as I speak.’
‘Vị ẩn sĩ nào đã cúng dường Ta bằng hoa, và cũng đã tán thán trí tuệ của Ta, Ta sẽ tuyên thuyết về vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời Ta nói.’
242.
242.
242.
‘‘‘Buddhassa giramaññāya, sabbe devā samāgatā;
Saddhammaṃ sotukāmā te, sambuddhamupasaṅkamuṃ.
‘Having understood the Buddha’s word, all the devas assembled; desiring to hear the good Dhamma, they approached the Perfectly Enlightened One.’
‘Biết được lời của Đức Phật, tất cả chư thiên đã tụ hội. Mong muốn nghe Diệu Pháp, họ đã đến gần bậc Chánh Đẳng Giác.’
243.
243.
243.
‘‘‘Dasasu lokadhātūsu, devakāyā mahiddhikā;
Saddhammaṃ sotukāmā te, sambuddhamupasaṅkamuṃ.
In the ten world-systems, divine hosts of great power, desiring to hear the true Dhamma, approached the Sambuddha.
‘Trong mười thế giới, các chúng chư thiên có đại thần lực, mong muốn nghe Diệu Pháp, họ đã đến gần bậc Chánh Đẳng Giác.’
244.
244.
244.
‘‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā ca caturaṅginī;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Elephants, horses, chariots, and infantry, the four-limbed army, will always surround this one; this is the fruit of worshipping the Buddha.’
‘Voi, ngựa, xe, bộ binh, và bốn binh chủng sẽ luôn vây quanh vị này. Đây là quả của việc cúng dường Phật.’
245.
245.
245.
‘‘‘Saṭṭhitūriyasahassāni, bheriyo samalaṅkatā;
Upaṭṭhissantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘Sixty thousand musical instruments and well-adorned drums will always attend upon this one; this is the fruit of worshipping the Buddha.’
‘Sáu mươi ngàn nhạc cụ, những trống lớn được trang hoàng đẹp đẽ, sẽ luôn phục vụ vị này. Đây là quả của việc cúng dường Phật.’
246.
246.
246.
‘‘‘Soḷasitthisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vicittavatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā.
‘Sixteen thousand women, ladies well-adorned, with varied garments and ornaments, wearing jeweled earrings.’
‘Mười sáu ngàn phụ nữ, những người được trang hoàng đẹp đẽ, có y phục và trang sức rực rỡ, đeo hoa tai bằng ngọc.’
247.
247.
247.
‘‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Parivāressantimaṃ niccaṃ, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
‘With curved eyelashes, cheerful, well-proportioned, and slender-waisted, they will always surround this one; this is the fruit of worshipping the Buddha.’
‘(Những người phụ nữ) có lông mi cong, hay mỉm cười, có thân hình cân đối, eo thon, sẽ luôn vây quanh vị này. Đây là quả của việc cúng dường Phật.’
248.
248.
248.
‘‘‘Kappasatasahassāni, devaloke ramissati;
Sahassakkhattuṃ cakkavattī, rājā raṭṭhe bhavissati.
‘For a hundred thousand kappas, he will delight in the deva world; a thousand times he will be a wheel-turning king in the land.’
‘Trong một trăm ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Một ngàn lần, vị ấy sẽ trở thành vua Chuyển Luân trong quốc độ.’
249.
249.
249.
‘‘‘Sahassakkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ †.
‘A thousand times he will be the lord of devas and exercise sovereignty over the devas; and he will rule over a vast regional kingdom, uncountable by number.’
‘Một ngàn lần, vị ấy sẽ trở thành vua trời Đế Thích, trị vì vương quốc của chư thiên. Vị ấy sẽ trị vì vương quốc chư hầu rộng lớn, không thể đếm được về số lượng.’
250.
250.
250.
‘‘‘Pacchime bhavasampatte †, manussattaṃ gamissati;
Brāhmaṇī sāriyā nāma, dhārayissati kucchinā.
‘When he reaches his final existence, he will attain a human state; a brahmin woman named Sārī will carry him in her womb.’
‘Khi đạt đến kiếp cuối cùng, vị ấy sẽ tái sanh làm người. Một nữ Bà-la-môn tên là Sārī sẽ mang thai vị ấy.’
251.
251.
251.
‘‘‘Mātuyā nāmagottena, paññāyissatiyaṃ naro;
Sāriputtoti nāmena, tikkhapañño bhavissati.
‘This man will be known by his mother’s name and clan; by the name Sāriputta, he will be one of sharp wisdom.’
‘Người này sẽ được biết đến bởi tên và dòng họ của mẹ, với tên là Sāriputta, và sẽ trở thành người có trí tuệ sắc bén.’
252.
252.
252.
‘‘‘Asītikoṭī chaḍḍetvā, pabbajissatikiñcano;
Gavesanto santipadaṃ, carissati mahiṃ imaṃ.
‘Having renounced eighty crores, he will go forth possessing nothing; seeking the state of peace, he will wander over this earth.’
‘Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tài sản), vị ấy sẽ xuất gia không còn vướng bận. Tìm kiếm con đường tịch tịnh, vị ấy sẽ đi khắp mặt đất này.’
253.
253.
253.
‘‘‘Apparimeyye ito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In an immeasurable kappa from now, born of the Okkāka clan, a Teacher, Gotama by clan name, will arise in the world.’
‘Từ đây, sau một a-tăng-kỳ không thể đo lường, một bậc Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sanh ra trong dòng họ Okkāka, tên là Gotama.’
254.
254.
254.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Sāriputtoti nāmena, hessati aggasāvako.
‘An heir to his Dhamma, a legitimate son created by the Dhamma, he will be the chief disciple by the name of Sāriputta.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa kế Pháp của Ngài, là người con sanh từ ngực, do Pháp tạo ra, với tên là Sāriputta, sẽ trở thành vị Thượng thủ Thinh văn.’
255.
255.
255.
‘‘‘Ayaṃ bhāgīrathī † gaṅgā, himavantā pabhāvitā;
Mahāsamuddamappeti, tappayantī mahodadhiṃ †.
‘This river Ganges, the Bhāgīrathī, originating from the Himālaya, reaches the great ocean, satisfying the great sea.’
‘Sông Hằng Bhāgīrathī này bắt nguồn từ Hy-mã-lạp-sơn, làm cho đại dương đầy ắp và chảy vào đại dương.’
256.
256.
256.
‘‘‘Tathevāyaṃ sāriputto, sake tīsu visārado;
Paññāya pāramiṃ gantvā, tappayissati pāṇine †.
‘Just so, this Sāriputta, being skilled in his own three Piṭakas, having gone to the perfection of wisdom, will satisfy living beings.’
‘Cũng như thế, Sāriputta này, sau khi thông thạo ba tạng của mình, đạt đến sự hoàn hảo của trí tuệ, sẽ làm cho chúng sanh hoan hỷ.’
257.
257.
257.
‘‘‘Himavantamupādāya, sāgarañca mahodadhiṃ;
Etthantare yaṃ pulinaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘Taking the Himālaya as the start and the great ocean, the sea, as the boundary, whatever sand is in between is uncountable by number.’
‘Bắt đầu từ Hy-mã-lạp-sơn và lấy đại dương làm ranh giới, số cát ở giữa đây không thể đếm được.’
258.
258.
258.
‘‘‘Tampi sakkā asesena, saṅkhātuṃ gaṇanā yathā;
Na tveva sāriputtassa, paññāyanto bhavissati.
‘It might be possible to count even that sand completely by number, but there will truly be no end to the wisdom of Sāriputta.’
Ví như có thể đếm được, toàn bộ số cát kia không còn sót; nhưng không thể nào có được, sự kết thúc về trí tuệ của Sāriputta.
259.
259.
259.
‘‘‘Lakkhe ṭhapiyamānamhi, khīye gaṅgāya vālukā;
Na tveva sāriputtassa, paññāyanto bhavissati.
‘When a mark is being placed, the sand of the Ganges might be exhausted; but there will surely be no end to the wisdom of Sāriputta.’
Trong khi đang đặt xuống các dấu hiệu, cát của sông Gaṅgā có thể cạn kiệt; nhưng không thể nào có được, sự kết thúc về trí tuệ của Sāriputta.
260.
260.
260.
‘‘‘Mahāsamudde ūmiyo, gaṇanāto asaṅkhiyā;
Tatheva sāriputtassa, paññāyanto na hessati.
‘The waves in the great ocean are uncountable by number; just so, there will be no end to the wisdom of Sāriputta.’
Các ngọn sóng ở đại dương, không thể đếm được bằng cách tính toán; cũng giống như thế, không thể có được, sự kết thúc về trí tuệ của Sāriputta.
261.
261.
261.
‘‘‘Ārādhayitvā sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Paññāya pāramiṃ gantvā, hessati aggasāvako.
‘Having pleased the Sambuddha Gotama, the foremost of the Sakyans, and having reached the perfection of wisdom, he will become the chief disciple.’
Sau khi làm hài lòng bậc Chánh Đẳng Giác, đức Gotama, vị ngưu vương của dòng Sakya, sau khi đi đến sự ba-la-mật của trí tuệ, vị ấy sẽ là vị Thượng thủ Thinh văn.
262.
262.
262.
‘‘‘Pavattitaṃ dhammacakkaṃ, sakyaputtena tādinā;
Anuvattessati sammā, vassento dhammavuṭṭhiyo.
‘The Wheel of Dhamma set in motion by the son of the Sakyans, the Such a One, he will rightly keep turning, showering the rains of Dhamma.’
Bánh xe Pháp đã được chuyển vận, bởi người con dòng Sakya, bậc Như Nhiên; vị ấy sẽ chuyển vận theo một cách đúng đắn, trong khi làm tuôn đổ những cơn mưa Pháp.
263.
263.
263.
‘‘‘Sabbametaṃ abhiññāya, gotamo sakyapuṅgavo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, aggaṭṭhāne ṭhapessati’.
‘Having known all this through direct knowledge, Gotama, the bull among the Sakyans, seated in the assembly of monks, will place him in the foremost position.’
Sau khi đã thắng tri tất cả điều này, đức Gotama, vị ngưu vương của dòng Sakya, sau khi ngồi xuống giữa chúng Tỳ khưu, sẽ đặt (vị ấy) vào địa vị tối thượng.
264.
264.
264.
‘‘Aho me sukataṃ kammaṃ, anomadassissa satthuno;
Yassāhaṃ kāraṃ † katvāna, sabbattha pāramiṃ gato.
‘Ah, my kamma for the Teacher Anomadassī was well done! Because I performed a meritorious deed for him, I have reached perfection in every respect.’
Ôi, nghiệp tốt đẹp đã được tôi thực hiện, đối với đức Đạo Sư Anomadassī! Sau khi đã thực hiện sự phụng sự đối với ngài, tôi đã đi đến sự ba-la-mật về tất cả mọi phương diện.
265.
265.
265.
‘‘Aparimeyye kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sumutto saravegova, kilese jhāpayiṃ ahaṃ.
‘The kamma done in an immeasurable eon has shown its fruit to me here. Like the velocity of a well-released arrow, I have burned up the defilements.’
Nghiệp đã được thực hiện trong vô lượng kiếp, đã cho tôi quả ở tại đây. Giống như tốc độ của mũi tên được bắn đi, tôi đã thiêu đốt các phiền não.
266.
266.
266.
‘‘Asaṅkhataṃ gavesanto, nibbānaṃ acalaṃ padaṃ;
Vicinaṃ titthiye sabbe, esāhaṃ saṃsariṃ bhave.
‘Seeking Nibbāna, the unconditioned, immovable state, and investigating all the sectarians, I transmigrated through existence.’
Trong khi tìm kiếm trạng thái Vô Vi, là Niết Bàn, trạng thái bất động, trong khi khảo sát tất cả các du sĩ ngoại đạo, chính tôi đây đã luân hồi trong các cõi hữu.
267.
267.
267.
‘‘Yathāpi byādhito poso, pariyeseyya osadhaṃ;
Vicineyya vanaṃ † sabbaṃ, byādhito parimuttiyā.
‘Just as a person afflicted by sickness, for release from that sickness, would seek medicine and would search the entire forest.’
Ví như người bị bệnh tật, có thể tìm kiếm phương thuốc; có thể khảo sát toàn bộ khu rừng, để được giải thoát khỏi bệnh tật.
268.
268.
268.
‘‘Asaṅkhataṃ gavesanto, nibbānaṃ amataṃ padaṃ;
Abbokiṇṇaṃ † pañcasataṃ, pabbajiṃ isipabbajaṃ.
‘Seeking Nibbāna, the unconditioned, the deathless state, for five hundred consecutive lifetimes I went forth into the sage's going-forth.’
Trong khi tìm kiếm trạng thái Vô Vi, là Niết Bàn, trạng thái bất tử, tôi đã xuất gia theo lối xuất gia của vị ẩn sĩ, năm trăm (kiếp) không gián đoạn.
269.
269.
269.
‘‘Jaṭābhārena bharito, ajinuttaranivāsano;
Abhiññāpāramiṃ gantvā, brahmalokaṃ agacchihaṃ.
‘Burdened by the weight of matted hair, wearing a superior antelope skin, having reached the perfection of the direct knowledges, I went to the Brahmā world.’
Tôi đã mang gánh nặng của tóc bện, đã mặc tấm da thú làm y phục bên ngoài. Sau khi đi đến sự ba-la-mật về thắng trí, tôi đã đi đến thế giới Phạm thiên.
270.
270.
270.
‘‘Natthi bāhirake suddhi, ṭhapetvā jinasāsanaṃ;
Ye keci buddhimā sattā, sujjhanti jinasāsane.
‘There is no purity among the outsiders, setting aside the teaching of the Conqueror; whatever wise beings there are, they become pure in the teaching of the Conqueror.’
Không có sự thanh tịnh ở bên ngoài, ngoại trừ giáo pháp của bậc Toàn Thắng. Bất cứ chúng sanh nào có trí tuệ, đều được thanh tịnh trong giáo pháp của bậc Toàn Thắng.
271.
271.
271.
‘‘Attakāramayaṃ † etaṃ, nayidaṃ itihītihaṃ;
Asaṅkhataṃ gavesanto, kutitthe † sañcariṃ ahaṃ.
‘This purity consists of one's own effort; it is not mere hearsay. Seeking the unconditioned, I wandered among the wrong fords.’
Điều này (sự thanh tịnh) được tạo nên do sự nỗ lực của tự thân, điều này không phải là do lời truyền khẩu. Trong khi tìm kiếm trạng thái Vô Vi, tôi đã đi đến các bến đò sai lầm.
272.
272.
272.
‘‘Yathā sāratthiko poso, kadaliṃ chetvāna phālaye;
Na tattha sāraṃ vindeyya, sārena rittako hi so.
‘Just as a person in need of heartwood, having cut down a banana tree, might split it; he would not find heartwood there, for it is indeed empty of heartwood.’
Ví như người muốn có được lõi cây, sau khi đốn xuống cây chuối, người ấy có thể chẻ ra; người ấy không tìm thấy lõi cây ở đó, vì nó trống rỗng, không có lõi cây.
273.
273.
273.
‘‘Tatheva titthiyā loke, nānādiṭṭhī bahujjanā;
Asaṅkhatena rittāse, sārena kadalī yathā.
‘Just so, the sectarians in the world, the many folk of various views, are empty of the unconditioned, just as a banana tree is of heartwood.’
Cũng giống như thế, các du sĩ ngoại đạo ở thế gian, là những người có nhiều tà kiến, là số đông; họ trống rỗng đối với trạng thái Vô Vi, giống như cây chuối không có lõi cây.
274.
274.
274.
‘‘Pacchime bhavasampatte, brahmabandhu ahosahaṃ;
Mahābhogaṃ chaḍḍetvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
‘In my final attainment of existence, I was a kinsman of the brahmins. Having given up great wealth, I went forth into the homeless life.’
Khi đã đạt được kiếp sống cuối cùng, tôi đã là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Sau khi từ bỏ tài sản lớn lao, tôi đã xuất gia, sống không gia đình.
Paṭhamabhāṇavāraṃ.
The first recitation section is concluded.
Phần tụng đọc thứ nhất.
275.
275.
275.
‘‘Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Brāhmaṇo sañcayo † nāma, tassa mūle vasāmahaṃ.
‘A reciter, a bearer of mantras, one who had mastered the three Vedas, was the brahmin named Sañcaya; I dwelt in his presence.’
Là người học tập, người thông thuộc các câu thần chú, người thông suốt ba tập Vệ-đà, có vị Bà-la-môn tên là Sañcaya, tôi đã sống dưới sự chỉ dạy của vị ấy.
276.
276.
276.
‘‘Sāvako te mahāvīra, assaji nāma brāhmaṇo;
Durāsado uggatejo, piṇḍāya caratī tadā.
‘Your disciple, O great hero, the holy man named Assaji—hard to assail, of fierce majesty—was then wandering for alms.’
Thưa bậc Đại Hùng, có vị đệ tử của ngài, vị Bà-la-môn tên là Assaji, là người khó đến gần, có uy lực mạnh mẽ, khi ấy đang đi khất thực.
277.
277.
277.
‘‘Tamaddasāsiṃ sappaññaṃ, muniṃ mone samāhitaṃ;
Santacittaṃ mahānāgaṃ, suphullaṃ padumaṃ yathā.
‘I saw him, the wise sage, concentrated in sagehood, of tranquil mind, a great being, like a fully blossomed lotus.’
Tôi đã nhìn thấy vị ấy, bậc hiền trí, bậc ẩn sĩ có tâm định tĩnh, có tâm ý an tịnh, bậc đại long tượng, giống như đóa hoa sen nở trọn.
278.
278.
278.
‘‘Disvā me cittamuppajji, sudantaṃ suddhamānasaṃ;
Usabhaṃ pavaraṃ vīraṃ, arahāyaṃ bhavissati.
‘Having seen him—well-tamed, of pure mind, a noble bull, a supreme hero—a thought arose in me: “This one will be an Arahant.”’
Sau khi nhìn thấy vị được khéo điều phục, có tâm ý thanh tịnh, bậc ngưu vương, bậc cao thượng, bậc dũng cảm, tâm của tôi đã khởi lên: ‘Vị này chắc hẳn là bậc A-la-hán.’
279.
279.
279.
‘‘Pāsādiko iriyati, abhirūpo susaṃvuto;
Uttame damathe danto, amatadassī bhavissati.
‘He comports himself gracefully, is handsome and well-restrained; tamed in the supreme taming, he will be a seer of the deathless.’
Vị ấy đi lại một cách đáng tin cậy, có dung sắc đẹp đẽ, được khéo thu thúc. Được điều phục trong sự điều phục tối thượng, vị ấy chắc hẳn là người thấy được trạng thái bất tử.
280.
280.
280.
‘‘Yaṃnūnāhaṃ uttamatthaṃ, puccheyyaṃ tuṭṭhamānasaṃ;
So me puṭṭho kathessati, paṭipucchāmahaṃ tadā.
‘What if I were to ask him, the one of contented mind, about the supreme goal? Being asked by me, he will speak. Then I shall question him in turn.’
Chắc chắn rằng tôi nên hỏi vị có tâm ý hoan hỷ, về ý nghĩa tối thượng. Sau khi được tôi hỏi, vị ấy sẽ nói ra; khi ấy tôi sẽ hỏi lại.
281.
281.
281.
‘‘Piṇḍapātaṃ † carantassa, pacchato agamāsahaṃ;
Okāsaṃ paṭimānento, pucchituṃ amataṃ padaṃ.
‘I followed behind him as he was wandering for alms, awaiting an opportunity to ask about the deathless state.’
Tôi đã đi theo phía sau của vị đang đi khất thực, trong khi chờ đợi cơ hội, để hỏi về trạng thái bất tử.
282.
282.
282.
‘‘Vīthintare anuppattaṃ, upagantvāna pucchahaṃ;
‘Kathaṃ gottosi tvaṃ vīra, kassa sissosi mārisa’.
‘Having followed him into the street, I approached and asked: “Of what clan are you, O hero? Whose disciple are you, good sir?”’
Sau khi đã đến gần vị đã đi đến khoảng giữa con đường, tôi đã hỏi rằng: ‘Thưa bậc dũng cảm, ngài thuộc dòng dõi nào? Thưa hiền giả, ngài là đệ tử của ai?’
283.
283.
283.
‘‘So me puṭṭho viyākāsi, asambhītova kesarī;
‘Buddho loke samuppanno, tassa sissomhi āvuso’.
‘Being asked by me, he answered, fearless like a lion: “A Buddha has arisen in the world; I am his disciple, friend.”’
Sau khi được tôi hỏi, vị ấy đã trả lời, giống như con sư tử không sợ hãi: ‘Bậc Giác Ngộ đã xuất hiện ở thế gian. Thưa hiền hữu, tôi là đệ tử của ngài.’
284.
284.
284.
‘‘‘Kīdisaṃ te mahāvīra, anujāta mahāyasa;
Buddhassa sāsanaṃ dhammaṃ, sādhu me kathayassu bho’.
‘“Of what sort, O great hero, O true-born son of great fame, is the teaching of your Buddha? Good sir, please declare the Dhamma to me.”’
‘Thưa bậc Đại Hùng, bậc xứng đáng, bậc có danh tiếng lớn, giáo pháp của đức Phật là như thế nào? Thưa ngài, xin ngài vui lòng nói Pháp ấy cho tôi.’
285.
285.
285.
‘‘So me puṭṭho kathī sabbaṃ, gambhīraṃ nipuṇaṃ padaṃ;
Taṇhāsallassa hantāraṃ, sabbadukkhāpanūdanaṃ.
‘Being asked by me, he spoke of the profound, subtle state, the destroyer of the dart of craving, the dispeller of all suffering.’
Sau khi được tôi hỏi, vị ấy đã nói lên tất cả, trạng thái thâm sâu, vi tế, là điều diệt trừ mũi tên ái dục, là điều xua tan tất cả khổ đau.
286.
286.
286.
‘‘‘Ye dhammā hetuppabhavā, tesaṃ hetuṃ tathāgato āha;
Tesañca yo nirodho, evaṃ vādī mahāsamaṇo’.
‘“Whatever phenomena arise from a cause, the Tathāgata has told their cause; and also their cessation—thus speaks the Great Ascetic.”’
‘Các pháp nào sanh lên từ nguyên nhân, đức Như Lai đã nói lên nguyên nhân của các pháp ấy; và sự diệt tận của các pháp ấy, bậc Đại Sa-môn có thuyết như vậy.’
287.
287.
287.
‘‘Sohaṃ vissajjite pañhe, paṭhamaṃ phalamajjhagaṃ;
Virajo vimalo āsiṃ, sutvāna jinasāsanaṃ.
When the question was answered, I attained the first fruit; having heard the teaching of the Conqueror, I became dust-free and undefiled.
Khi câu hỏi được giải đáp, tôi đã chứng đắc quả vị đầu tiên. Sau khi lắng nghe giáo pháp của bậc Chiến Thắng, tôi đã trở nên không còn bụi bặm, không còn cấu uế.
288.
288.
288.
‘‘Sutvāna munino vākyaṃ, passitvā dhammamuttamaṃ;
Pariyogāḷhasaddhammo, imaṃ gāthamabhāsahaṃ.
Having heard the sage’s words, having seen the supreme Dhamma, and having penetrated the true Dhamma, I spoke this verse:
Sau khi lắng nghe lời dạy của bậc ẩn sĩ, sau khi thấy được pháp tối thượng, tôi, người đã thâm nhập diệu pháp, đã nói lên kệ ngôn này.
289.
289.
289.
‘‘‘Eseva dhammo yadi tāvadeva, paccabyathapadamasokaṃ;
Adiṭṭhaṃ abbhatītaṃ, bahukehi kappanahutehi’.
‘This is that very Dhamma! If only it could have been realized before! This sorrowless state, unseen, has been passed by for many tens of thousands of aeons.’
‘Pháp này chính là như vậy, nếu chỉ cần biết được chừng ấy. Ngài đã thấu đạt được cảnh giới vô ưu, điều mà chúng con chưa từng thấy, đã trôi qua không biết bao nhiêu vạn kiếp’.
290.
290.
290.
‘‘Svāhaṃ dhammaṃ gavesanto, kutitthe sañcariṃ ahaṃ;
So me attho anuppatto, kālo me nappamajjituṃ.
Thus, seeking the Dhamma, I wandered in wrong fords. Now that goal of mine has been attained; it is time for me not to be heedless.
Tôi đây, trong khi tìm cầu Chánh pháp, đã từng lang thang trong các tà kiến. Mục đích ấy tôi đã đạt được, đây là lúc tôi không nên dễ duôi.
291.
291.
291.
‘‘Tositohaṃ assajinā, patvāna acalaṃ padaṃ;
Sahāyakaṃ gavesanto, assamaṃ agamāsahaṃ.
Pleased by Assaji, having attained the unshakeable state, I went to the hermitage seeking my companion.
Tôi, được ngài Assaji làm cho hoan hỷ, sau khi đạt đến cảnh giới bất động, đã đi đến am thất để tìm người bạn đồng hành.
292.
292.
292.
‘‘Dūratova mamaṃ disvā, sahāyo me susikkhito;
Iriyāpathasampanno †, idaṃ vacanamabravi.
My well-trained companion, endowed with graceful deportment, seeing me from afar, spoke these words:
Từ xa trông thấy tôi, người bạn đồng hành của tôi, người đã được huấn luyện kỹ càng, có oai nghi tề chỉnh, đã nói lên lời này.
293.
293.
293.
‘‘‘Pasannamukhanettosi, munibhāvova dissati;
Amatādhigato kacci, nibbānamaccutaṃ padaṃ.
‘Friend, your face and eyes are serene; the demeanor of a sage is apparent. Have you attained the Deathless, the imperishable state of Nibbāna?’
‘Này bạn, mặt và mắt của bạn trong sáng, dường như đã có cốt cách của bậc ẩn sĩ. Phải chăng bạn đã chứng đắc được cảnh giới bất tử, bất diệt, chính là Niết-bàn?’
294.
294.
294.
‘‘‘Subhānurūpo āyāsi, āneñjakārito viya;
Dantova dantadamatho †, upasantosi brāhmaṇa.
‘Friend brahmin, you come with a radiant nature, as if having achieved imperturbability. Tamed, and peaceful in the taming, you are serene.’
‘Này bạn Bà-la-môn, bạn đến đây với dáng vẻ tương xứng với sự tốt đẹp, như người đã được rèn luyện đến bất động. Bạn đã được điều phục, đã được thuần hóa, bạn thật là tịch tịnh.’
295.
295.
295.
‘‘‘Amataṃ mayādhigataṃ, sokasallāpanūdanaṃ;
Tvampi taṃ adhigacchesi †, gacchāma buddhasantikaṃ’.
‘Friend, I have attained the Deathless, which removes the dart of sorrow. May you too attain it; let us go to the presence of the Buddha.’
‘Này bạn, tôi đã chứng đắc được pháp bất tử, có khả năng nhổ lên mũi tên sầu muộn. Mong rằng bạn cũng sẽ chứng đắc được pháp ấy. Chúng ta hãy cùng đi đến nơi đức Phật.’
296.
296.
296.
‘‘Sādhūti so paṭissutvā, sahāyo me susikkhito;
Hatthena hatthaṃ gaṇhitvā, upagamma † tavantikaṃ.
‘Good,’ replied my well-trained companion. Taking hand with hand, we approached your presence.
Người bạn đồng hành của tôi, người đã được huấn luyện kỹ càng, sau khi đáp lời ‘Lành thay!’, đã nắm tay trong tay, cùng đến nơi ngài.
297.
297.
297.
‘‘Ubhopi pabbajissāma, sakyaputta tavantike;
Tava sāsanamāgamma, viharāma anāsavā.
‘O Sakyan Prince, in your presence, we both will go forth. Relying on your teaching, may we dwell without taints.’
Thưa ngài, Thích tử, chúng con cả hai sẽ xin xuất gia nơi ngài. Nương theo giáo pháp của ngài, chúng con sẽ an trú trong trạng thái vô lậu.
298.
298.
298.
‘‘Kolito iddhiyā seṭṭho, ahaṃ paññāya pārago;
Ubhova ekato hutvā, sāsanaṃ sobhayāmase.
‘Kolita is foremost in psychic power; I have reached the far shore of wisdom. We both, having become as one, shall adorn the teaching.’
Kolita là bậc tối thắng về thần thông, còn tôi là người đã đến bờ kia của trí tuệ. Cả hai chúng tôi hợp lại, sẽ làm rạng rỡ giáo pháp.
299.
299.
299.
‘‘Apariyositasaṅkappo, kutitthe sañcariṃ ahaṃ;
Tava dassanamāgamma, saṅkappo pūrito mama.
‘With my intention unfulfilled, I wandered in wrong fords. On account of seeing you, my intention is fulfilled.’
Với tâm nguyện chưa được viên mãn, con đã từng lang thang trong các tà kiến. Nhờ được diện kiến ngài, tâm nguyện của con đã được trọn vẹn.
300.
300.
300.
‘‘Pathaviyaṃ patiṭṭhāya, pupphanti samaye dumā;
Dibbagandhā sampavanti, tosenti sabbapāṇinaṃ.
Trees, firmly established on the earth, blossom in season; divine fragrances spread, pleasing all beings.
Cây cối đứng vững trên mặt đất, đến mùa thì trổ hoa. Hương thơm trời tỏa lan, làm hoan hỷ tất cả chúng sanh.
301.
301.
301.
‘‘Tathevāhaṃ mahāvīra, sakyaputta mahāyasa;
Sāsane te patiṭṭhāya, samayesāmi pupphituṃ.
‘Just so, O great hero, Sakyan son of great fame, established in your teaching, I shall seek the time to blossom.’
Cũng vậy, thưa ngài, bậc Đại hùng, Thích tử, bậc Đại danh, con sẽ đứng vững trong giáo pháp của ngài, và tìm kiếm thời điểm để nở hoa.
302.
302.
302.
‘‘Vimuttipupphaṃ esanto, bhavasaṃsāramocanaṃ;
Vimuttipupphalābhena, tosemi sabbapāṇinaṃ.
‘Seeking the flower of liberation that releases from the round of existence, by obtaining the flower of liberation, I shall please all beings.’
Con tìm kiếm đóa hoa giải thoát, thứ giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Với việc đắc được đóa hoa giải thoát, con sẽ làm hoan hỷ tất cả chúng sanh.
303.
303.
303.
‘‘Yāvatā buddhakhettamhi, ṭhapetvāna mahāmuniṃ;
Paññāya sadiso natthi, tava puttassa cakkhuma.
‘Throughout the Buddha-field, O possessor of the eye, excluding the Great Sage, there is no one with wisdom equal to that of your son.’
Thưa ngài, bậc Hữu nhãn, trong toàn cõi Phật, ngoại trừ bậc Đại ẩn sĩ, không có ai có thể sánh bằng về trí tuệ với người con của ngài.
304.
304.
304.
‘‘Suvinītā ca te sissā, parisā ca susikkhitā;
Uttame damathe dantā, parivārenti taṃ sadā.
‘Your disciples are well-trained, and your assembly is well-instructed. Tamed in the supreme discipline, they always surround you.’
Các đệ tử của ngài được khéo huấn luyện, hội chúng cũng được khéo chỉ dạy. Những vị đã được điều phục trong sự điều phục tối thượng, luôn luôn vây quanh ngài.
305.
305.
305.
‘‘Jhāyī jhānaratā dhīrā, santacittā samāhitā;
Munī moneyyasampannā, parivārenti taṃ sadā.
‘Meditators, delighting in jhāna, wise, with peaceful minds, concentrated; sages endowed with sagacity—they always surround you.’
Những vị thiền định, ưa thích thiền na, những bậc hiền trí, tâm ý tịch tịnh, tâm được định tĩnh; những bậc ẩn sĩ thành tựu trí tuệ, luôn luôn vây quanh ngài.
306.
306.
306.
‘‘Appicchā nipakā dhīrā, appāhārā alolupā;
Lābhālābhena santuṭṭhā, parivārenti taṃ sadā.
‘Of few wishes, prudent, wise, of little food, not greedy, content with gain and loss—they always surround you.’
Những vị ít ham muốn, thận trọng, hiền trí, ăn uống ít, không tham lam; những vị biết tri túc với được và không được, luôn luôn vây quanh ngài.
307.
307.
307.
‘‘Āraññikā dhutaratā, jhāyino lūkhacīvarā;
Vivekābhiratā dhīrā, parivārenti taṃ sadā.
‘Forest-dwellers, delighting in the ascetic practices, meditators, wearing coarse robes, delighting in seclusion, wise—they always surround you.’
Những vị sống trong rừng, ưa thích hạnh đầu-đà, những vị thiền định, mặc y thô xấu; những bậc hiền trí ưa thích sống độc cư, luôn luôn vây quanh ngài.
308.
308.
308.
‘‘Paṭipannā phalaṭṭhā ca, sekhā phalasamaṅgino;
Āsīsakā † uttamatthaṃ, parivārenti taṃ sadā.
‘Those practicing the path and those established in the fruit, trainees endowed with the fruits, and those aspiring to the supreme goal—they always surround you.’
Những vị đang thực hành, và những vị đã chứng quả, những bậc hữu học đã thành tựu quả vị; những vị đang mong cầu mục đích tối thượng, luôn luôn vây quanh ngài.
309.
309.
309.
‘‘Sotāpannā ca vimalā, sakadāgāmino ca ye;
Anāgāmī ca arahā, parivārenti taṃ sadā.
‘Stainless stream-enterers, and those who are once-returners, and non-returners, and Arahants—they always surround you.’
Những vị Dự lưu không còn cấu uế, và những vị Nhất lai, những vị Bất lai, và những bậc A-la-hán, luôn luôn vây quanh ngài.
310.
310.
310.
‘‘Satipaṭṭhānakusalā, bojjhaṅgabhāvanāratā;
Sāvakā te bahū sabbe, parivārenti taṃ sadā.
‘Skilled in the foundations of mindfulness, delighting in the cultivation of the factors of enlightenment—all your many disciples always surround you.’
Những vị thiện xảo về Tứ niệm xứ, ưa thích tu tập Thất giác chi; tất cả đông đảo các vị thinh văn ấy của ngài, luôn luôn vây quanh ngài.
311.
311.
311.
‘‘Iddhipādesu kusalā, samādhibhāvanāratā;
Sammappadhānānuyuttā, parivārenti taṃ sadā.
‘Skilled in the bases of psychic power, delighting in the cultivation of concentration, devoted to the right exertions—they always surround you.’
Những vị thiện xảo về Tứ thần túc, ưa thích tu tập thiền định; những vị chuyên cần trong Tứ chánh cần, luôn luôn vây quanh ngài.
312.
312.
312.
‘‘Tevijjā chaḷabhiññā ca, iddhiyā pāramiṃ gatā;
Paññāya pāramiṃ pattā, parivārenti taṃ sadā.
‘Those with the three knowledges, those with the six superknowledges, those who have reached the perfection of psychic power, and those who have attained the perfection of wisdom—they always surround you.’
Những vị có Tam minh, và Lục thông, những vị đã đạt đến ba-la-mật về thần thông; những vị đã đạt đến ba-la-mật về trí tuệ, luôn luôn vây quanh ngài.
313.
313.
313.
‘‘Edisā te mahāvīra, tava sissā susikkhitā;
Durāsadā uggatejā, parivārenti taṃ sadā.
‘O great hero, such are your disciples—well-trained, hard to approach, of sharp power—they always surround you.’
Thưa bậc Đại hùng, những vị đệ tử như thế của ngài, được huấn luyện kỹ càng, khó có thể tiếp cận, có uy lực mạnh mẽ, luôn luôn vây quanh ngài.
314.
314.
314.
‘‘Tehi sissehi parivuto, saññatehi tapassibhi;
Migarājāvasambhīto, uḷurājāva sobhasi.
‘Surrounded by those disciples, restrained and ascetic, you shine, unfrightened like a lion king, and like the moon, lord of the stars.’
Được vây quanh bởi những đệ tử ấy, những vị tự chế, những vị khổ hạnh, ngài tỏa sáng như chúa sơn lâm không hề sợ hãi, và như vua của các vì sao.
315.
315.
315.
‘‘Pathaviyaṃ patiṭṭhāya, ruhanti dharaṇīruhā;
Vepullataṃ pāpuṇanti, phalañca dassayanti te.
‘Established on the earth, trees grow; they reach a state of fullness and show their fruit.’
Cây cối đứng vững trên mặt đất, chúng tăng trưởng, chúng phát triển đến mức sung mãn, và chúng cho ra quả.
316.
316.
316.
‘‘Pathavīsadiso tvaṃsi, sakyaputta mahāyasa;
Sāsane te patiṭṭhāya, labhanti amataṃ phalaṃ.
‘O Sakyan Prince of great fame, you are like the earth. Established in your teaching, they obtain the deathless fruit.’
Thưa ngài, Thích tử, bậc Đại danh, ngài cũng giống như mặt đất. Chúng sanh đứng vững trong giáo pháp của ngài, và đạt được quả vị bất tử.
317.
317.
317.
‘‘Sindhu sarassatī ceva, nadiyo candabhāgikā;
Gaṅgā ca yamunā ceva, sarabhū ca atho mahī.
The Sindhu and the Sarassatī, the river Candabhāgā; the Gaṅgā and the Yamunā, the Sarabhū, and also the Mahī.
Sông Sindhu và Sarassatī, các sông Candabhāgikā; Sông Gaṅgā và Yamunā, sông Sarabhū và cả Mahī.
318.
318.
318.
‘‘Etāsaṃ sandamānānaṃ, sāgaro sampaṭicchati;
Jahanti purimaṃ nāmaṃ, sāgaroteva ñāyati.
The ocean receives the water of these flowing rivers; they abandon their former name, and are known only as ‘the ocean.’
Biển cả đón nhận dòng nước của các con sông đang chảy ấy; Chúng từ bỏ tên gọi cũ, và chỉ được biết đến là biển cả.
319.
319.
319.
‘‘Tathevime catubbaṇṇā, pabbajitvā tavantike;
Jahanti purimaṃ nāmaṃ, buddhaputtāti ñāyare.
Just so, these four castes, having gone forth in your presence, abandon their former name and are known as sons of the Buddha.
Cũng vậy, bốn giai cấp này, khi xuất gia gần bên Ngài; Họ từ bỏ tên gọi cũ, và được biết đến là con của Đức Phật.
320.
320.
320.
‘‘Yathāpi cando vimalo, gacchaṃ ākāsadhātuyā;
Sabbe tāragaṇe loke, ābhāya atirocati.
Just as the spotless moon, moving through the element of space, outshines all the hosts of stars in the world with its radiance.
Cũng như mặt trăng không tỳ vết, di chuyển trong hư không; Với ánh sáng của mình, nó chiếu sáng hơn tất cả các vì sao trong thế gian.
321.
321.
321.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, parivuto devamānuse;
Ete sabbe atikkamma, jalasi sabbadā tuvaṃ.
Just so, O great hero, you, surrounded by gods and humans, having surpassed all these, always shine.
Cũng vậy, hỡi bậc Đại Hùng, Ngài được chư thiên và nhân loại vây quanh; Vượt qua tất cả họ, Ngài luôn luôn tỏa sáng.
322.
322.
322.
‘‘Gambhīre uṭṭhitā ūmī, na velamativattare;
Sabbā velaṃva phusanti †, sañcuṇṇā vikiranti tā.
Waves that arise in the deep ocean do not overstep the shore; all of them, touching the shore, are crushed to powder and scattered.
Những con sóng dâng lên từ biển sâu, không vượt qua được bờ; Tất cả chúng đều chạm vào bờ, rồi tan vỡ và phân tán.
323.
323.
323.
‘‘Tatheva titthiyā loke, nānādiṭṭhī bahujjanā;
Dhammaṃ vāditukāmā te, nātivattanti taṃ muniṃ.
Just so, the sectarians in the world, of many different views and with many followers, wishing to dispute the Dhamma, cannot surpass you, O Sage.
Cũng vậy, các du sĩ ngoại đạo trong thế gian, với nhiều tà kiến khác nhau; Dù muốn tranh luận về Pháp, họ không thể vượt qua được bậc Mâu-ni ấy.
324.
324.
324.
‘‘Sace ca taṃ pāpuṇanti, paṭivādehi cakkhuma;
Tavantikaṃ upāgantvā, sañcuṇṇāva bhavanti te.
O One with Vision, if they should reach you with opposing doctrines, having approached your presence, they are utterly crushed.
Và nếu họ đến được với Ngài, hỡi bậc có Tuệ nhãn, với những lời phản bác; Khi đến gần Ngài, họ liền bị tan vỡ.
325.
325.
325.
‘‘Yathāpi udake jātā, kumudā mandālakā bahū;
Upalimpanti † toyena, kaddamakalalena ca.
Just as many water lilies and coral-tree flowers, born in the water, are smeared by water, and by thick and thin mud.
Cũng như nhiều hoa súng (kumudā) và hoa mandālakā sinh ra trong nước; Chúng bị lấm lem bởi nước, bởi bùn đặc và bùn loãng.
326.
326.
326.
‘‘Tatheva bahukā sattā, loke jātā virūhare;
Aṭṭitā rāgadosena, kaddame kumudaṃ yathā.
Just so, many beings born in the world exist afflicted by lust and hatred, just as a water lily is smeared by mud.
Cũng vậy, nhiều chúng sanh sinh ra trong thế gian và lớn lên; Bị khổ não bởi tham và sân, như hoa súng trong bùn lầy.
327.
327.
327.
‘‘Yathāpi padumaṃ jalajaṃ, jalamajjhe virūhati;
Na so limpati toyena, parisuddho hi kesarī.
Just as a lotus, born of water, grows in the midst of water; that filamented one is not smeared by the water, for it is pure.
Cũng như hoa sen sinh trong nước, vươn lên giữa dòng nước; Hoa sen có nhụy ấy không bị nước làm lấm bẩn, vì nó thanh tịnh.
328.
328.
328.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, loke jāto mahāmuni;
Nopalimpasi lokena, toyena padumaṃ yathā.
Just so, O great hero, great sage, you, having been born in the world, are not smeared by the world, just as a lotus is not smeared by water.
Cũng vậy, hỡi bậc Đại Hùng, Đại Mâu-ni, Ngài sinh ra trong thế gian; Nhưng không bị thế gian làm ô nhiễm, như hoa sen không bị nước làm lấm bẩn.
329.
329.
329.
‘‘Yathāpi rammake māse, bahū pupphanti vārijā;
Nātikkamanti taṃ māsaṃ, samayo pupphanāya so.
Just as in a delightful month, many water-born flowers bloom; they do not go beyond that month, for that is the season for their flowering.
Cũng như trong tháng tươi đẹp, nhiều loài hoa thủy sinh nở rộ; Chúng không vượt qua tháng ấy, vì đó là mùa hoa nở.
330.
330.
330.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, pupphito te vimuttiyā;
Sāsanaṃ nātivattanti, padumaṃ vārijaṃ yathā.
Just so, O great hero, you have blossomed with your liberation; your disciples do not go beyond the Dispensation, just as the water-born lotus does not go beyond its season.
Cũng vậy, hỡi bậc Đại Hùng, Ngài đã nở hoa với sự giải thoát; Các đệ tử của Ngài không vượt qua giáo pháp, như hoa sen thủy sinh không vượt qua mùa của nó.
331.
331.
331.
‘‘Supupphito sālarājā, dibbagandhaṃ pavāyati;
Aññasālehi parivuto, sālarājāva sobhati.
The king of sāl trees, fully bloomed, wafts a divine fragrance; surrounded by other sāl trees, the king of sāl trees shines.
Cây sala chúa nở hoa rực rỡ, tỏa hương thơm thần thánh; Được các cây sala khác vây quanh, cây sala chúa càng thêm lộng lẫy.
332.
332.
332.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, buddhañāṇena pupphito;
Bhikkhusaṅghaparivuto, sālarājāva sobhasi.
Just so, O great hero, you, having blossomed with the Buddha's knowledge, surrounded by the community of monks, shine like a king of sāl trees.
Cũng vậy, hỡi bậc Đại Hùng, Ngài đã nở hoa với Phật trí; Được Tăng đoàn vây quanh, Ngài tỏa sáng như cây sala chúa.
333.
333.
333.
‘‘Yathāpi selo himavā, osadho sabbapāṇinaṃ;
Nāgānaṃ asurānañca, devatānañca ālayo.
Just as the Himavā mountain is a repository of medicine for all beings, and an abode for nāgas, asuras, and devas.
Cũng như núi Hy-mã-lạp, là nguồn dược thảo cho mọi chúng sanh; Là nơi trú ngụ của các loài rồng, a-tu-la và chư thiên.
334.
334.
334.
‘‘Tatheva tvaṃ mahāvīra, osadho viya pāṇinaṃ;
Tevijjā chaḷabhiññā ca, iddhiyā pāramiṃ gatā.
Just so, O great hero, you are like a medicine for beings; those with the three knowledges and the six supernormal knowledges have attained perfection in psychic power.
Cũng vậy, hỡi bậc Đại Hùng, Ngài như là dược thảo cho chúng sanh; (Các đệ tử của Ngài) đạt Tam minh, Lục thông, đã đến sự toàn hảo về thần thông.
335.
335.
335.
‘‘Anusiṭṭhā mahāvīra, tayā kāruṇikena te;
Ramanti dhammaratiyā, vasanti tava sāsane.
O great hero, your disciples, instructed by you, the compassionate one, delight in the joy of the Dhamma; they dwell in your Dispensation.
Hỡi bậc Đại Hùng, họ đã được Ngài, bậc bi mẫn, chỉ dạy; Họ hoan hỷ trong niềm vui của Pháp, và sống trong giáo pháp của Ngài.
336.
336.
336.
‘‘Migarājā yathā sīho, abhinikkhamma āsayā;
Catuddisānuviloketvā †,
Just as a lion, the king of beasts, having emerged from its lair, surveys the four directions,
Như sư tử, vua của các loài thú, ra khỏi hang ổ của mình; Sau khi nhìn khắp bốn phương,
Tikkhattuṃ abhinādati.
and roars three times.
Nó rống lên ba lần.
337.
337.
337.
‘‘Sabbe migā uttasanti, migarājassa gajjato;
Tathā hi jātimā eso, pasū tāseti sabbadā.
All beasts tremble at the roaring of the king of beasts; so indeed, this one of noble birth always frightens the beasts.
Tất cả các loài thú đều kinh hãi, trước tiếng rống của vua loài thú; Vì loài thú cao quý này, luôn làm kinh sợ các loài vật.
338.
338.
338.
‘‘Gajjato te mahāvīra, vasudhā sampakampati;
Bodhaneyyāvabujjhanti, tasanti mārakāyikā.
At your roar, O great hero, this earth trembles; only those who are to be awakened, awaken; the hosts of Māra tremble.
Khi Ngài rống lên, hỡi bậc Đại Hùng, quả đất này rung chuyển; Những ai có thể giác ngộ thì được giác ngộ, còn chúng ma thì kinh sợ.
339.
339.
339.
‘‘Tasanti titthiyā sabbe, nadato te mahāmuni;
Kākā senāva vibbhantā, migaraññā yathā migā.
All sectarians tremble at your roar, O Great Sage; like crows scattered by a hawk, like beasts from the king of beasts.
Tất cả các du sĩ ngoại đạo đều kinh sợ, trước tiếng rống của Ngài, hỡi bậc Đại Mâu-ni; Như quạ sợ diều hâu, như thú sợ vua loài thú.
340.
340.
340.
‘‘Ye keci gaṇino loke, satthāroti pavuccare;
Paramparāgataṃ dhammaṃ, desenti parisāya te.
Whoever in the world are leaders of groups and are called ‘teachers,’ they teach a doctrine that has come down through tradition to their assembly.
Bất cứ ai có giáo phái trong thế gian, được gọi là đạo sư; Họ thuyết giảng cho hội chúng của mình một giáo pháp được truyền thừa.
341.
341.
341.
‘‘Na hevaṃ tvaṃ mahāvīra, dhammaṃ desesi pāṇinaṃ;
Sāmaṃ saccāni bujjhitvā, kevalaṃ bodhipakkhiyaṃ.
Not so, O great hero, do you teach the Dhamma to beings; but rather, having awakened to the truths yourself, you teach the entire requisites of enlightenment.
Nhưng Ngài không như vậy, hỡi bậc Đại Hùng, khi thuyết Pháp cho chúng sanh; Ngài tự mình giác ngộ các chân lý, và toàn bộ các pháp trợ Bồ-đề.
342.
342.
342.
‘‘Āsayānusayaṃ ñatvā, indriyānaṃ balābalaṃ;
Bhabbābhabbe viditvāna, mahāmeghova gajjasi.
Knowing their inclinations and underlying tendencies, the strength and weakness of their faculties, and having understood who is capable and incapable, you roar like a great cloud.
Biết rõ tâm tánh và phiền não ngầm, biết rõ năng lực mạnh yếu của các căn; Biết rõ người có khả năng và không có khả năng, Ngài rống lên như một đám mây lớn.
343.
343.
343.
‘‘Cakkavāḷapariyantā, nisinnā parisā bhave;
Nānādiṭṭhī vicinantā †, vimaticchedanāya taṃ.
The assembly, from as far as the edge of the universe, would be seated, investigating various views in order to cut through doubt concerning you.
Hội chúng có thể ngồi khắp đến tận cùng vũ trụ; Họ tìm hiểu các quan điểm khác nhau, (vây quanh) Ngài để cắt đứt sự nghi ngờ.
344.
344.
344.
‘‘Sabbesaṃ cittamaññāya, opammakusalo muni;
Ekaṃ pañhaṃ kathentova, vimatiṃ chindasi † pāṇinaṃ.
The sage, skilled in similes, knowing the minds of all, as if answering a single question, cuts through the various doubts of beings.
Biết tâm của tất cả mọi người, bậc Mâu-ni thiện xảo trong các ví dụ; Chỉ bằng cách trả lời một câu hỏi, Ngài cắt đứt sự nghi ngờ của chúng sanh.
345.
345.
345.
‘‘Upatissasadiseheva, vasudhā pūritā bhave;
Sabbeva te pañjalikā, kittayuṃ lokanāyakaṃ.
If the earth were filled only with wise ones like Upatissa, all of them, with hands raised in reverence, would praise the Leader of the World.
Mặt đất này có thể được lấp đầy bởi những người như Upatissa; Tất cả họ sẽ chắp tay cung kính, tán dương bậc Lãnh đạo thế gian.
346.
346.
346.
‘‘Kappaṃ vā te kittayantā, nānāvaṇṇehi kittayuṃ;
Parimetuṃ na sakkeyyuṃ †, appameyyo tathāgato.
Even if they were to praise you for an eon, praising with various qualities, they would not be able to measure you, for the Tathāgata is immeasurable.
“Dù cho những bậc trí tuệ ấy có tán thán suốt một kiếp, dùng những lời tán thán với nhiều phẩm chất khác nhau; họ cũng không thể nào đo lường được, vì đức Như Lai là bậc không thể đo lường.”
347.
347.
347.
‘‘Yathāsakena thāmena, kittito hi mayā jino;
Kappakoṭīpi kittentā, evameva pakittayuṃ.
According to my own strength, the Conqueror has indeed been praised by me; even if they were to praise for ten million eons, they would praise in just this way.
“Con đã tán thán đức Chuyển Thắng theo khả năng của mình; dù cho có tán thán đến cả trăm triệu kiếp, họ cũng chỉ có thể tán thán như vậy mà thôi.”
348.
348.
348.
‘‘Sace hi koci devo vā, manusso vā susikkhito;
Pametuṃ parikappeyya, vighātaṃva labheyya so.
If indeed any god or human, being well-trained, should attempt to measure, that one would obtain only vexation.
“Nếu có một vị trời hay người nào, dù đã được học hỏi kỹ càng, mà có ý định đo lường (công đức của Ngài), người ấy chắc chắn sẽ chỉ gặp phải sự mệt mỏi.”
349.
349.
349.
‘‘Sāsane te patiṭṭhāya, sakyaputta mahāyasa;
Paññāya pāramiṃ gantvā, viharāmi anāsavo.
Established in your Dispensation, O greatly renowned son of the Sakyans, having gone to the perfection of wisdom, I dwell without taints.
“Bạch đức Thích Tử, bậc có danh tiếng lớn! Con đã an trú trong giáo pháp của Ngài, đã đạt đến sự toàn hảo của trí tuệ, và đang sống không còn lậu hoặc.”
350.
350.
350.
‘‘Titthiye sampamaddāmi, vattemi jinasāsanaṃ;
Dhammasenāpati ajja, sakyaputtassa sāsane.
I thoroughly crush the sectarians; I uphold the Conqueror's Dispensation. Today, in the Dispensation of the son of the Sakyans, I am the General of the Dhamma.
“Con đã nhiếp phục các ngoại đạo, con đã làm cho giáo pháp của đức Chuyển Thắng được lưu chuyển. Hôm nay, trong giáo pháp của đức Thích Tử, con là vị Tướng quân Chánh pháp.”
351.
351.
351.
‘‘Aparimeyye kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sukhitto saravegova, kilese jhāpayī mama †.
The deed done in an immeasurable eon has shown its fruit to me here. Like the speed of a well-shot arrow, I have burnt up my defilements.
“Nghiệp lành đã tạo trong vô lượng kiếp đã cho con thấy quả báo ngay tại đây. Giống như tốc độ của mũi tên được bắn khéo, con đã thiêu đốt các phiền não của mình.”
352.
352.
352.
‘‘Yo koci manujo bhāraṃ, dhāreyya matthake sadā;
Bhārena dukkhito assa, bhārehi bharito tathā.
Whatever person should always carry a burden on their head would be afflicted by the burden, thus being laden with burdens.
“Ví như có người nào đó luôn mang gánh nặng trên đầu; người ấy sẽ bị đau khổ bởi gánh nặng, bị chất đầy bởi những gánh nặng ấy.”
353.
353.
353.
‘‘Ḍayhamāno tīhaggīhi, bhavesu saṃsariṃ ahaṃ;
Bharito bhavabhārena, giriṃ uccārito yathā.
Being burned by the three fires, I wandered through existences, laden with the burden of existence, like one carrying a mountain.
“Cũng vậy, con đã bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, đã luân hồi trong các cõi sống; bị chất đầy gánh nặng của sự tồn tại, như thể đang đội một ngọn núi.”
354.
354.
354.
‘‘Oropito ca me bhāro, bhavā ugghāṭitā mayā;
Karaṇīyaṃ kataṃ sabbaṃ, sakyaputtassa sāsane.
My burden has been laid down, and existences have been uprooted by me; all that was to be done has been done in the Dispensation of the son of the Sakyans.
“Gánh nặng của con đã được đặt xuống, các cõi sống đã được con phá hủy. Mọi việc cần làm đã được làm xong, trong giáo pháp của đức Thích Tử.”
355.
355.
355.
‘‘Yāvatā buddhakhettamhi, ṭhapetvā sakyapuṅgavaṃ;
Ahaṃ aggomhi paññāya, sadiso me na vijjati.
Throughout the entire Buddha-field, excepting the Bull of the Sakyans, I am foremost in wisdom; one equal to me is not found.
“Trong toàn cõi Phật, ngoại trừ đức Thích Ca Tối Thắng, con là bậc tối thượng về trí tuệ, không có ai sánh bằng con.”
356.
356.
356.
‘‘Samādhimhi sukusalo, iddhiyā pāramiṃ gato;
Icchamāno cahaṃ ajja, sahassaṃ abhinimmine.
Very skilled in concentration, gone to the perfection of psychic power; and if I wish today, I could create a thousand.
“Con rất thiện xảo về định, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông. Nếu hôm nay con muốn, con có thể hóa hiện ra cả ngàn (thân).”
357.
357.
357.
‘‘Anupubbavihārassa, vasībhūto mahāmuni;
Kathesi sāsanaṃ mayhaṃ, nirodho sayanaṃ mama.
The Great Sage, a master of the successive abidings, taught the Dispensation to me; cessation is my resting place.
“Đức Đại Mâu Ni, bậc đã thuần thục các tuần tự thiền trú, đã thuyết giảng giáo pháp cho con. Diệt tận định là nơi nghỉ ngơi của con.”
358.
358.
358.
‘‘Dibbacakkhu visuddhaṃ me, samādhikusalo ahaṃ;
Sammappadhānānuyutto, bojjhaṅgabhāvanārato.
My divine eye is purified; I am skilled in concentration. I am devoted to the right exertions, delighting in the cultivation of the factors of enlightenment.
“Thiên nhãn của con đã thanh tịnh, con thiện xảo về định. Con chuyên tâm vào chánh cần, và ưa thích tu tập các giác chi.”
359.
359.
359.
‘‘Sāvakena hi pattabbaṃ, sabbameva kataṃ mayā;
Lokanāthaṃ ṭhapetvāna, sadiso me na vijjati.
Indeed, all that is to be attained by a disciple has been done by me; excepting the Protector of the World, one equal to me is not found.
“Tất cả những gì một vị thinh văn cần phải đạt được, con đều đã làm xong. Ngoại trừ đức Thế Tôn, không có ai sánh bằng con.”
360.
360.
360.
‘‘Samāpattīnaṃ kusalo †, jhānavimokkhāna khippapaṭilābhī;
Bojjhaṅgabhāvanārato, sāvakaguṇapāramigatosmi.
I am skilled in the attainments, a swift obtainer of the jhānas and liberations, delighting in the cultivation of the factors of enlightenment; I have gone to the perfection of a disciple's qualities.
“Con thiện xảo về các tầng thiền chứng, nhanh chóng chứng đắc các thiền và giải thoát; con ưa thích tu tập các giác chi, con đã đạt đến sự toàn hảo về các phẩm chất của một vị thinh văn.”
361.
361.
361.
‘‘Sāvakaguṇenapi phussena †, buddhiyā parisuttamabhāravā †;
Yaṃ saddhāsaṅgahitaṃ † cittaṃ, sadā sabrahmacārīsu.
Though endowed with the qualities of a disciple and with wisdom, I always maintain a respectful mind for the welfare of all my companions in the holy life.
“Dù đã đạt được các phẩm chất của một vị thinh văn và đầy đủ trí tuệ, con vẫn luôn giữ tâm tôn kính và mong cầu lợi ích cho các vị đồng phạm hạnh.”
362.
362.
362.
‘‘Uddhatavisova sappo, chinnavisāṇova usabho;
Nikkhittamānadappova †, upemi garugāravena gaṇaṃ.
Like a snake with its venom removed, like a bull with its horns cut off, having laid aside conceit and pride, I approach the assembly with deep respect.
“Như con rắn đã bị nhổ nọc độc, như con bò mộng đã bị bẻ sừng; con đã từ bỏ ngã mạn và kiêu căng, con đến với Tăng chúng với lòng tôn kính sâu sắc.”
363.
363.
363.
‘‘Yadi rūpinī bhaveyya, paññā me vasumatīpi † na sameyya;
Anomadassissa † bhagavato, phalametaṃ ñāṇathavanāya.
If my wisdom were to have form, even the earth would not be its equal; this is the fruit of praising the knowledge of the Blessed One Anomadassi.
“Nếu trí tuệ của con có hình tướng, thì cả trái đất này cũng không thể sánh bằng. Đây là quả báo của việc tán thán trí tuệ của đức Thế Tôn Anomadassī.”
364.
364.
364.
‘‘Pavattitaṃ dhammacakkaṃ, sakyaputtena tādinā;
Anuvattemahaṃ sammā, ñāṇathavanāyidaṃ phalaṃ.
The Wheel of Dhamma set in motion by the son of the Sakyans, the Such-a-One, I have rightly kept rolling; this is the fruit of praising his knowledge.
“Bánh xe Pháp đã được đức Thích Tử, bậc Như Nhiên, chuyển vận; con đã làm cho bánh xe ấy tiếp tục lăn chuyển một cách đúng đắn. Đây là quả báo của việc tán thán trí tuệ (của Ngài).”
365.
365.
365.
‘‘Mā me kadāci pāpiccho, kusīto hīnavīriyo;
Appassuto anādaro †, sameto ahu katthaci.
May I never, anywhere, be associated with one of evil desires, who is lazy, of deficient energy, of little learning, or disrespectful.
“Mong rằng con không bao giờ, ở bất cứ nơi đâu, phải kết giao với người có ước muốn xấu xa, lười biếng, ít tinh tấn, ít học hỏi, và không biết tôn trọng.”
366.
366.
366.
‘‘Bahussuto ca medhāvī, sīlesu susamāhito;
Cetosamathānuyutto, api muddhani tiṭṭhatu.
But one who is learned and wise, well-composed in virtues, and devoted to mental calm—may he stand even upon my head.
“Người nào đa văn, có trí tuệ, giữ giới trong sạch, chuyên tâm tu tập chỉ tịnh—người như vậy, mong rằng hãy ngự trên đầu của con.”
367.
367.
367.
‘‘Taṃ vo vadāmi bhaddante, yāvantettha samāgatā;
Appicchā hotha santuṭṭhā, jhāyī jhānaratā sadā.
I say this to you, good sirs, all of you who have gathered here: Be of few wishes, be contented, be ever meditative, delighting in jhāna.
“Thưa chư hiền, tôi xin nói điều này với quý vị, tất cả những ai đã tụ hội về đây: Hãy thiểu dục, hãy tri túc, hãy luôn là người hành thiền, và ưa thích thiền định.”
368.
368.
368.
‘‘Yamahaṃ paṭhamaṃ disvā, virajo vimalo ahuṃ;
So me ācariyo dhīro, assaji nāma sāvako.
He whom I first saw, whereupon I became dustless and stainless—that wise one was my teacher, the disciple named Assaji.
“Vị mà con lần đầu tiên nhìn thấy, nhờ đó con trở nên không còn bụi bặm, không còn cấu uế; vị thầy của con chính là bậc trí tuệ ấy, vị thinh văn tên là Assaji.”
369.
369.
369.
‘‘Tassāhaṃ vāhasā ajja, dhammasenāpatī ahuṃ;
Sabbattha pāramiṃ patvā, viharāmi anāsavo.
Today, by his influence, I became the General of the Dhamma; having attained perfection in all respects, I dwell without taints.
“Nhờ vào ảnh hưởng của ngài, hôm nay con đã trở thành vị Tướng quân Chánh pháp. Đã đạt đến sự toàn hảo trong mọi phương diện, con sống không còn lậu hoặc.”
370.
370.
370.
‘‘Yo me ācariyo āsi, assaji nāma sāvako;
Yassaṃ disāyaṃ vasati, ussīsamhi karomahaṃ.
He who was my teacher, the disciple named Assaji—in whichever direction he dwells, that direction I make my head-rest.
“Vị thầy của con, vị thinh văn tên là Assaji; ngài đang trú ở phương nào, con quay đầu về phương đó (khi ngủ).”
371.
371.
371.
‘‘Mama kammaṃ saritvāna, gotamo sakyapuṅgavo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, aggaṭṭhāne ṭhapesi maṃ.
Remembering my kamma, Gotama, the Bull of the Sakyans, having sat down in the assembly of monks, placed me in the foremost position.
“Tưởng nhớ đến nghiệp xưa của con, đức Gotama, bậc Tối Thắng của dòng Thích Ca, khi đang ngự giữa Tăng chúng, đã đặt con vào vị trí tối thượng.”
372.
372.
372.
†
"These two verses are not in the Siamese manuscript."
Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā.
My defilements have been burnt up; all existences have been uprooted.
“Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các cõi sống đã được nhổ sạch.”
Nāgova bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavo.
Like a great elephant having broken its bonds, I dwell without taints.
“Như con voi chúa phá tan xiềng xích, con sống không còn lậu hoặc.”
373.
373.
373.
374.
374.
374.
‘‘Paṭisambhidā catasso †, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six higher knowledges have been realized; the Buddha's Dispensation has been fulfilled.
“Tứ vô ngại giải, và tám giải thoát này, cùng với lục thông đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sāriputto thero imā gāthāyo
Thus the venerable Elder Sāriputta spoke these verses…
Như vậy, quả thực, trưởng lão Sāriputta khả kính những câu kệ này
Abhāsitthāti.
He spoke.
đã nói lên.
Sāriputtattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna of the Elder Sāriputta is concluded.
Thiên Thân thế sự của trưởng lão Sāriputta thứ nhất.