Bản dịch
THA -ap2 — Phật Độc Giác Ký Sự
Paccekabuddhaapadāna
Giờ xin thỉnh các vị hãy lắng nghe ký sự về Phật Độc Giác:
BJT 82Trong khi đức Như lai ngự tại Jetavana, bậc hiền trí xứ Videha đã cúi mình hỏi Ngài rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, nghe nói có các vị được gọi là đức Phật Độc Giác, các vị ấy được thành tựu là do các nguyên nhân nào?”
BJT 83Khi ấy, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri cao qúy, đã nói với vị hiền nhân Ānanda bằng âm điệu ngọt ngào rằng: “Những vị nào có hành động hướng thượng đã được thể hiện đến chư Phật quá khứ, (nhưng) có sự giải thoát chưa được thành đạt trong (thời kỳ) Giáo Pháp của các đấng Chiến Thắng.
BJT 84Chính nhờ vào yếu tố đầu tiên ấy về sự chấn động của tâm, các vị sáng suốt có trí tuệ vô cùng sắc bén vẫn thành tựu phẩm vị Độc Giác chỉ nhờ vào đối tượng nhỏ nhoi mặc dầu (ở vào thời kỳ) không có các vị Phật (Toàn Giác).
BJT 85Trong toàn bộ thế gian, ngoại trừ Ta không có ai sánh bằng các vị Phật Độc Giác. Ta sẽ khéo léo thuyết giảng một cách khái quát về đức hạnh này của các bậc đại hiền trí ấy.
BJT 86Là những người đang mong mỏi phương thuốc vô thượng (Niết Bàn), tất cả các ngươi, với tâm khéo tín thành, hãy lắng nghe những lời nói tốt đẹp như là viên mật về các bậc đại ẩn sĩ đã được tự chính mình giác ngộ.
BJT 87(Hãy lắng nghe) những lời thuật lại theo tuần tự của các vị Phật Độc Giác đã tụ hội lại, và (hãy lắng nghe) về sự tai hại và nền tảng của sự xa lìa tham ái, theo đó các vị đã thành tựu quả vị Giác Ngộ.
BJT 88Với sự nghĩ tưởng về ly tham ái đối với các sự việc có tham ái, với các tâm không ái luyến trong thế gian bị luyến ái, sau khi từ bỏ các chướng ngại (toàn bộ phiền não) và chiến thắng các loạn tưởng (62 tà kiến), theo đúng như thế các vị đã thành tựu quả vị Giác Ngộ:
BJT 89Buông bỏ sự trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, và không hãm hại bất cứ ai trong số họ, với tâm từ ái người có sự thương tưởng đến điều lợi ích hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 90Buông bỏ sự trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, và không hãm hại bất cứ ai trong số họ, không nên mong mỏi về con trai, sao lại (mong mỏi) về bạn bè? Hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 91Các sự ái luyến hiện diện ở người có sự thân cận đã được tạo nên, theo sau sự ái luyến là khổ đau này được thành lập. Trong khi xem xét thấy điều tai hại sanh lên từ sự ái luyến, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 92Trong khi thương tưởng đến bạn bè thân hữu, (thời) xao lãng mục đích, có tâm bị ràng buộc. Trong khi xem xét thấy mối nguy hiểm này ở sự giao du, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 93Sự mong mỏi ở các con và những người vợ tương tợ như lùm tre rậm bị vướng víu. Trong khi không bị vướng víu như là mụt măng tre, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 94Tương tợ như con nai ở trong rừng không bị trói buộc đi đến nơi kiếm ăn tùy theo ý thích, bậc tri thức trong khi xem xét về sự tự do hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 95Có sự mời gọi giữa bạn bè về chuyện nghỉ ngơi, về việc đứng gần, về sự ra đi, ở cuộc du hành, trong khi xem xét về sự tự do không được (kẻ khác) ham thích, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 96Sự vui đùa thích thú ở giữa đám bạn bè và lòng thương yêu đối với con cái là bao la, trong khi chán ghét sự tách lìa khỏi những người yêu dấu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 97Người không lòng bất bình trải khắp bốn phương, tự hài lòng với thức này thứ nọ, chịu đựng mọi hiểm nghèo không lòng hoảng sợ, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 98Ngay cả các vị đã xuất gia cũng khó đồng thuận, những kẻ tại gia sống dưới mái gia đình cũng vậy, đã là người ít bị bận tâm về con cái của kẻ khác, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 99Hãy cởi bỏ hình tướng tại gia như loài cây koviḷāro có lá được rũ bỏ, là người anh hùng, sau khi cắt đứt mọi sự ràng buộc của gia đình, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 100Nếu có thể đạt được bạn là kẻ đồng hành cẩn trọng, sáng suốt, sống ngay thẳng, sau khi khắc phục mọi hiểm nghèo hãy nên du hành với vị ấy, có sự hoan hỷ, có niệm.
BJT 101Nếu không thể đạt được bạn là kẻ đồng hành cẩn trọng, sáng suốt, sống ngay thẳng, tương tợ như vị vua từ bỏ lãnh địa đã xâm chiếm được, hãy nên sống một mình như là con long tượng cư ngụ đơn độc ở trong khu rừng.
BJT 102Quả vậy, chúng ta ca ngợi sự thành tựu bạn bè. Những bạn bè vượt trội (hoặc) tương đương là nên giao thiệp. (Nếu) những người này là không đạt được, (chỉ nên) thọ hưởng những gì không bị chê trách, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 103Sau khi nhìn thấy những (vòng) vàng sáng chói khéo được hoàn thành bởi con trai người thợ kim hoàn, (chúng) đang va chạm vào nhau khi hai vòng ở trên cùng cánh tay, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 104Tương tợ như thế, cùng với người thứ hai có thể xảy ra sự chuyện vãn bằng lời nói và sự quyến luyến sâu đậm cho tôi. Trong khi xem xét thấy mối nguy hiểm này trong tương lai, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 105Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý, chúng khuấy động tâm bằng nhiều hình thức ẩn hiện. Sau khi nhìn thấy điều tai hại ở trong các loại dục, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 106Điều này là tai họa, là mụt nhọt, là bất hạnh, là tật bệnh, là mũi tên, và là sự nguy hiểm cho tôi. Sau khi nhìn thấy mối nguy hiểm này ở trong các loại dục, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 107Lạnh, nóng, đói, khát, gió và sức nóng, muỗi mòng và rắn rết, sau khi đã khắc phục tất cả những điều này, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 108Tợ như con voi có thân hình khổng lồ, có đốm hoa sen, cao thượng, đã lìa bỏ các bầy đàn, đang sống trong rừng theo như ý thích, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 109Người ưa thích sự tụ hội có thể chạm đến sự giải thoát tạm thời là điều không có cơ sở. Sau khi cân nhắc lời nói của đấng quyến thuộc của mặt trời, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 110(Nghĩ rằng): ‘Tôi đã vượt lên trên các sự trái khuấy của tà kiến, đã đạt đến quy luật, đã tiếp thâu đạo lộ, có trí đã được sanh khởi, không cần người khác dẫn dắt,’ hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 111Không tham lam, không lừa gạt, không khao khát, không chê bai, có tật xấu và sự mê muội đã được loại trừ, không còn ước ao (tham vọng) về toàn thể thế giới, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 112Nên lánh xa hẳn bạn bè ác xấu là kẻ không nhìn thấy mục đích, đã dấn sâu vào sở hành sai trái. Không nên chính mình giao thiệp với kẻ bám víu (vào tà kiến), bị xao lãng. Hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 113Nên cộng sự với vị nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, là người bạn cao thượng, có biện tài. Sau khi nhận biết các mục đích, nên lìa bỏ điều nghi hoặc, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 114Trong khi không chú trọng và không mong mỏi sự vui đùa, sự thích thú, và khoái lạc ngũ dục ở trên đời, đã lánh xa việc trang sức, có sự nói lời chân thật, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 115Sau khi từ bỏ con và vợ, cha và mẹ, các tài sản và lúa gạo, các quyến thuộc và các dục đúng theo giới hạn (về năng lực của bản thân), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 116Điều này (ngũ dục) là sự ràng buộc, hạnh phúc ở đây là sự khoái lạc nhỏ nhoi, chính sự khổ đau ở đây là nhiều hơn. Người có trí, sau khi biết được điều này là móc câu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 117Tợ như loài loài thủy tộc phá tan chiếc lưới ở trong nước, tợ như ngọn lửa không còn quay lại nơi đã bị đốt cháy, sau khi đã tự phá tan các sự ràng buộc, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 118Có mắt nhìn xuống và không có sự buông thả ở bước chân đi, có các căn được hộ trì, có tâm ý được canh phòng, không bị ngập tràn (bởi dục vọng), trong khi không bị thiêu đốt (bởi phiền não), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 119Sau khi trút bỏ các biểu tượng gia chủ tương tợ như cây san hô có lá được rũ bỏ, sau khi đã ra đi, mặc y ca-sa, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 120Sự tham đắm trong các vị nếm là việc không làm, không có sự buông thả, không có sự nuôi dưỡng kẻ khác, có sự đi khất thực theo tuần tự từng nhà, có tâm không quyến luyến ở các gia đình, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 121Sau khi dứt bỏ năm pháp che lấp của tâm, sau khi xua đuổi hẳn tất cả các tùy phiền não, không bị lệ thuộc (tà kiến), sau khi cắt đứt ái luyến và sân hận, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 122Sau khi đã bỏ lại sau lưng lạc và khổ cùng với hỷ và ưu ngay trước đây, sau khi đạt được xả (của tứ thiền), sự vắng lặng (của định ở tứ thiền), và sự thanh tịnh (của giải thoát), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 123Có sự nỗ lực tinh tấn để đạt đến chân lý tuyệt đối, có tâm không thụ động, có sự thực hành không biếng nhác, có sự cố gắng bền bỉ, có được sức mạnh và năng lực, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 124Trong khi không bỏ phế việc ẩn cư tham thiền, là người thường xuyên hành trì thuận pháp đối với các pháp, là người nhận chân được sự tai hại trong các hữu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 125Trong khi ước nguyện sự đoạn diệt ái (Niết Bàn), không xao lãng, không ngây ngô khờ khạo, có sự nghe nhiều, có niệm, đã hiểu rõ Giáo Pháp, được quả quyết, có sự tinh tấn, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 126Trong khi không kinh hãi tợ như con sư tử không kinh hãi đối với các tiếng động, trong khi không dính mắc tợ như làn gió không bị dính mắc ở tấm lưới, trong khi không vấy bẩn tợ như đóa sen không bị vấy bẩn bởi nước, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 127Tợ như con sư tử có sức mạnh của các răng nanh, là vua của các loài thú, có cuộc sống khuất phục và chế ngự (các con thú), hãy nên lai vãng các trú xứ xa vắng, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 128Vào thời điểm đang rèn luyện từ, bi, hỷ, xả, và giải thoát, trong khi không bị chống đối bởi toàn bộ thế gian, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 129Trong khi từ bỏ tham ái sân hận và si mê, trong khi tự phá tan các sự ràng buộc, trong khi không kinh hãi về sự đoạn tận mạng sống, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 130Người ta cộng sự và phục vụ có động cơ và chủ đích (lợi lộc), ngày nay những người bạn không có động cơ (lợi lộc) là khó đạt được, những người (chỉ) biết đến lợi ích của chính mình là những người không trong sạch, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 131“Những vị có giới thanh tịnh, có tuệ hoàn toàn thanh tịnh, định tĩnh, gắn bó với sự tỉnh thức, là người hành pháp minh sát, có sự thấy biết đặc biệt về các pháp, nhận biết rõ ràng về các chi phần của Đạo và các yếu tố đưa đến giác ngộ.
BJT 132Sau khi rèn luyện không tánh (giải thoát), vô nguyện (giải thoát), và vô tướng (giải thoát) trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những bậc trí tuệ nào không tiến đến bản thể Thinh Văn (sẽ) trở thành các đấng Tự Chủ, các bậc Chiến Thắng đơn độc.
BJT 133Là những vị có các yếu tố cao thượng, có sự tập hợp của nhiều bản chất tự nhiên, cai quản được các tâm, đã vượt qua giòng lũ của tất cả khổ đau, có tâm phấn chấn, có sự thấy biết chân lý tuyệt đối, tương đương loài sư tử, tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 134Có các giác quan an tịnh, có tâm ý an tịnh, có định, có sự hành sử trí tuệ thâm sâu của tự thân, là những ngọn đèn đang soi sáng mục đích cho các kẻ khác ở thế giới này, những vị Phật Độc Giác này được quý trọng vào mọi thời điểm.
BJT 135Có tất cả các pháp ngăn che đã được dứt bỏ, là vị chúa của mọi người, là những ngọn đèn của thế gian có ánh sáng của vàng khối, hiển nhiên là những bậc xứng đáng được cúng dường ở thế gian, những vị Phật Độc Giác này được quý trọng vào mọi thời điểm.
BJT 136Lời khéo được giảng dạy của chư Phật Độc Giác lưu truyền ở thế gian luôn cả chư Thiên. Sau khi đã nghe được như thế, những kẻ ngu nào không hành theo những kẻ ấy quẩn quanh trong những khổ đau lượt này đến lượt khác.
BJT 137Lời khéo được giảng dạy của chư Phật Độc Giác tương tợ như mật ong đang nhỏ xuống từng giọt. Sau khi đã nghe được như thế, những ai gắn bó với sự thực hành, những người ấy (sẽ) trở thành những người thấy được chân lý, có được trí tuệ.”
BJT 138Sau khi đã ra đi (đạt được quả vị giác ngộ), những kệ ngôn cao thượng đã được chư Phật Độc Giác là các đấng Chiến Thắng nói lên, những kệ ngôn ấy đã được đấng Sư Tử dòng Sakya, bậc Tối Thượng Nhân, giảng giải vì mục đích của việc nhận thức Giáo Pháp.
BJT 139Vì lòng thương tưởng thế gian, đấng Sư Tử, bậc Tự Chủ (Gotama), đã thực hiện, đã giảng giải những kệ ngôn này của chư Phật Độc Giác ấy nhằm mục đích làm tăng trưởng sự chấn động tâm, sự không quyến luyến, và sự khôn ngoan vượt bực (của các bậc thiện trí).
Ký Sự về Phật Độc Giác được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Paccekabuddhaapadānaṃ
2. The Chronicle of the Paccekabuddhas
2. Hạnh trạng của chư vị Phật Độc Giác
Atha paccekabuddhāpadānaṃ suṇātha –
Now, listen to the Chronicle of the Paccekabuddhas.
Sau đây, các ngươi hãy lắng nghe hạnh trạng của chư vị Phật Độc Giác.
83.
83.
83.
‘‘Tathāgataṃ jetavane vasantaṃ, apucchi vedehamunī nataṅgo;
‘Paccekabuddhā kira nāma honti, bhavanti te hetubhi kehi vīra’ †.
The sage from Videha, with body bowed, asked the Tathāgata dwelling in Jetavana: ‘Paccekabuddhas, it is said, exist—by what causes do they come to be, O Hero?’
Bậc hiền triết Vedeha (Ānanda), với thân cúi đầu, đã bạch hỏi đấng Như Lai đang an ngự tại Jetavana rằng: ‘Bạch đấng Anh Hùng, nghe nói rằng có các vị được gọi là Phật Độc Giác. Do những nhân duyên nào mà các vị ấy hiện hữu?’
84.
84.
84.
‘‘Tadāha sabbaññuvaro mahesī, ānandabhaddaṃ madhurassarena;
‘Ye pubbabuddhesu † katādhikārā, aladdhamokkhā jinasāsanesu.
Then the supreme All-Knowing One, the Great Seer, spoke to the good Ānanda with a sweet voice: ‘Those who have made their aspirations under former Buddhas but have not attained liberation in the dispensations of the Conquerors,
Khi ấy, đấng Đại Ẩn Sĩ, bậc Toàn Giác tối thượng, đã phán dạy hiền giả Ānanda bằng giọng nói ngọt ngào rằng: ‘Này Ānanda, những vị đã tạo lập các điều kiện căn bản dưới thời chư Phật quá khứ, nhưng chưa đắc được giải thoát trong giáo pháp của các đấng Chiến Thắng.
85.
85.
85.
‘‘‘Teneva saṃvegamukhena dhīrā, vināpi buddhehi sutikkhapaññā;
Ārammaṇenāpi parittakena, paccekabodhiṃ anupāpuṇanti.
‘...by that very means of spiritual urgency, those wise ones, of exceedingly sharp wisdom, attain the enlightenment of a Pacceka even without Buddhas, through just a slight stimulus.’
‘Các bậc hiền trí ấy, với trí tuệ vô cùng sắc bén, chỉ nhờ vào sự chấn động tâm linh ấy làm đầu, dù không có chư Phật, cũng có thể nhờ một đối tượng nhỏ nhoi mà tuần tự chứng đắc giác ngộ Độc Giác.
86.
86.
86.
‘‘‘Sabbamhi lokamhi mamaṃ ṭhapetvā, paccekabuddhehi samova natthi;
Tesaṃ imaṃ vaṇṇapadesamattaṃ, vakkhāmahaṃ sādhu mahāmunīnaṃ.
‘In the entire world, setting me aside, there is no one equal to the Paccekabuddhas. Of those great sages, I shall speak well this mere portion of their praise.’
‘Trong toàn thể thế gian, ngoại trừ ta ra, không có ai sánh bằng chư vị Phật Độc Giác. Ta sẽ tuyên thuyết một cách tốt đẹp về một phần nhỏ trong phẩm hạnh của các bậc Đại Ẩn Sĩ ấy.
87.
87.
87.
‘‘‘Sayameva buddhānaṃ mahāisīnaṃ, sādhūni vākyāni madhūva † khuddaṃ;
Anuttaraṃ bhesajaṃ patthayantā, suṇātha sabbesu pasannacittā.
‘The good words of the self-enlightened great seers are like honey from small bees. All you who aspire for the unsurpassed medicine, listen with serene minds.’
‘Tất cả các ngươi, những người mong cầu liều thuốc vô thượng (Niết-bàn), hãy với tâm ý trong sáng lắng nghe những lời dạy tốt đẹp, ngọt ngào như mật ong, của các bậc Đại Ẩn Sĩ, những vị đã tự mình giác ngộ.
88.
88.
88.
‘‘‘Paccekabuddhānaṃ samāgatānaṃ, paramparaṃ byākaraṇāni yāni;
Ādīnavo yañca virāgavatthuṃ, yathā ca bodhiṃ anupāpuṇiṃsu.
‘The successive declarations of the assembled Paccekabuddhas—what danger they perceived, what was the basis for their dispassion, and how they attained enlightenment—listen to these.’
‘(Hãy lắng nghe) những lời ký thuyết được truyền lại đời này sang đời khác của chư vị Phật Độc Giác đã hội tụ, về những hiểm họa, về nền tảng của sự ly tham, và về cách thức các vị ấy đã tuần tự chứng đắc giác ngộ.
89.
89.
89.
‘‘‘Sarāgavatthūsu virāgasaññī, rattamhi lokamhi virattacittā;
Hitvā papañce jitaphanditāni †, tatheva bodhiṃ anupāpuṇiṃsu.
‘Perceiving dispassion in things that arouse passion, with minds detached in a passionate world, having abandoned conceptual proliferation and conquered agitation, in that very way they attained enlightenment.’
‘Đối với các đối tượng gây tham ái, các vị ấy có tưởng ly tham; trong thế gian tham ái, các vị ấy có tâm ly tham. Sau khi từ bỏ các pháp hý luận và chiến thắng những sự dao động (của tà kiến), chính nhờ vậy mà các vị ấy đã tuần tự chứng đắc giác ngộ.
90.
90.
90.
‘‘‘Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ;
Mettena cittena hitānukampī, eko care khaggavisāṇakappo.
Having laid aside the rod toward all beings, not harming any single one of them, compassionate for their welfare, with a mind of loving-kindness, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Hãy từ bỏ gậy gộc đối với tất cả chúng sinh, không làm hại bất cứ ai trong số họ, với tâm từ bi thương xót cho hạnh phúc (của họ), hãy sống một mình như sừng tê giác.
91.
91.
91.
‘‘‘Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ;
Na puttamiccheyya kuto sahāyaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Having laid aside the rod toward all beings, not harming any single one of them, one should not wish for a son, still less for a companion. One should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Hãy từ bỏ gậy gộc đối với tất cả chúng sinh, không làm hại bất cứ ai trong số họ; không mong cầu có con, huống nữa là bạn đồng hành, hãy sống một mình như sừng tê giác.
92.
92.
92.
‘‘‘Saṃsaggajātassa bhavanti snehā, snehanvayaṃ dukkhamidaṃ pahoti;
Ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘For one who engages in society, affections arise; in the wake of affection, this suffering comes to be. Seeing the danger born of affection, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Do giao du mà tình thương mến phát sinh; theo sau tình thương mến, nỗi khổ này khởi lên. Thấy được hiểm họa sinh ra từ tình thương mến, hãy sống một mình như sừng tê giác.
93.
93.
93.
‘‘‘Mitte suhajje anukampamāno, hāpeti atthaṃ paṭibaddhacitto;
Etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Feeling compassion for friends and companions, with an attached mind, one neglects the goal. Seeing this danger in intimacy, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Vì thương xót bạn bè thân hữu, tâm bị ràng buộc, người ấy đánh mất mục đích. Thấy được sự nguy hiểm này trong tình thân, hãy sống một mình như sừng tê giác.
94.
94.
94.
‘‘‘Vaṃso visālova yathā visatto, puttesu dāresu ca yā apekkhā;
Vaṃse kaḷīrova asajjamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Just as a spreading bamboo is entangled, so is the longing for children and wives. Like a bamboo shoot not getting entangled, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Giống như bụi tre rậm rạp bị vướng víu, sự quyến luyến đối với con cái và vợ cũng vậy. Như búp măng non không bị dính mắc, hãy sống một mình như sừng tê giác.
95.
95.
95.
‘‘‘Migo araññamhi yathā abaddho, yenicchakaṃ gacchati gocarāya;
Viññū naro seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘As a deer in the forest, unbound, goes to pasture wherever it wishes, so a wise person, seeing freedom, should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Như con nai trong rừng không bị trói buộc, đi đến nơi kiếm ăn bất cứ đâu nó muốn; người trí thấy được sự tự do, hãy sống một mình như sừng tê giác.
96.
96.
96.
‘‘‘Āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ca † ṭhāne gamane cārikāya;
Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Among companions there is consultation—while dwelling, standing, going, and journeying. Seeing the freedom that is not coveted by others, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Giữa bạn đồng hành có sự mời gọi, lúc ở, lúc đứng, lúc đi, lúc du hành. Thấy được sự tự do không bị thèm muốn, hãy sống một mình như sừng tê giác.
97.
97.
97.
‘‘‘Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjhe, puttesu pemaṃ vipulañca hoti;
Piyavippayogaṃ vijigucchamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Among companions there is sport and delight, and for one’s children there is great affection. Loathing separation from what is dear, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Giữa bạn đồng hành có sự vui đùa, thích thú; và tình thương bao la đối với con cái cũng phát sinh. Chán ghét sự chia ly với người thân yêu, hãy sống một mình như sừng tê giác.
98.
98.
98.
‘‘‘Cātuddiso appaṭigho ca hoti, santussamāno itarītarena;
Parissayānaṃ sahitā achambhī, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Being one for whom the four directions are open and who is unopposed, content with whatever comes to hand, enduring dangers, and unterrified, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Hãy đi khắp bốn phương không bị trở ngại, biết đủ với bất cứ thứ gì có được, chịu đựng được các hiểm nguy, không sợ hãi, hãy sống một mình như sừng tê giác.
99.
99.
99.
‘‘‘Dussaṅgahā pabbajitāpi eke, atho gahaṭṭhā gharamāvasantā;
Appossukko paraputtesu hutvā, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Some renunciates are difficult to associate with, and so too are householders living at home. Being unconcerned for the children of others, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Một số người xuất gia cũng khó gần, và cả những người tại gia sống trong nhà cũng vậy. Không bận tâm đến con cái của người khác, hãy sống một mình như sừng tê giác.
100.
100.
100.
‘‘‘Oropayitvā gihibyañjanāni, sañchinnapatto yathā koviḷāro;
Chetvāna vīro gihibandhanāni, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Having cast off the marks of a householder, like a coral tree that has shed its leaves, a hero, having cut the bonds of household life, should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Hãy từ bỏ các dấu hiệu của người tại gia, như cây koviḷāra đã rụng hết lá; bậc anh hùng, sau khi cắt đứt các ràng buộc của tại gia, hãy sống một mình như sừng tê giác.
101.
101.
101.
‘‘‘Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāridhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni, careyya tenattamano satīmā.
‘If one should find a prudent companion, a virtuous and steadfast fellow traveler, then having overcome all dangers, one should wander with him, glad and mindful.’
‘Nếu tìm được một người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, có đức hạnh và kiên định, hãy vượt qua mọi hiểm nguy, hoan hỷ và chánh niệm mà đi cùng người ấy.
102.
102.
102.
‘‘‘No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāridhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya, eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
‘If one does not find a prudent companion, a virtuous and steadfast fellow traveler, then like a king who leaves behind his conquered kingdom, one should wander alone, like a Mātaṅga elephant in the forest.’
‘Nếu không tìm được một người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, có đức hạnh và kiên định, hãy sống một mình như vua từ bỏ vương quốc đã chinh phục, như voi chúa Mātaṅga trong rừng.
103.
103.
103.
‘‘‘Addhā pasaṃsāma sahāyasampadaṃ, seṭṭhā samā sevitabbā sahāyā;
Ete aladdhā anavajjabhojī, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Indeed, we praise the blessing of companionship; one should associate with companions who are one’s superiors or equals. Not finding these, subsisting on what is blameless, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Chắc chắn chúng ta tán thán sự may mắn có được bạn đồng hành. Nên kết giao với những người bạn tốt hơn hoặc ngang bằng mình. Nếu không tìm được những người như vậy, hãy thọ dụng vật thực không lỗi lầm và sống một mình như sừng tê giác.
104.
104.
104.
‘‘‘Disvā suvaṇṇassa pabhassarāni, kammāraputtena suniṭṭhitāni;
Saṅghaṭṭamānāni duve bhujasmiṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Seeing two shining golden bangles, well-wrought by a smith, clashing against each other on the arm, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Thấy hai chiếc vòng vàng sáng chói, được người thợ kim hoàn chế tác tinh xảo, va chạm vào nhau trên cánh tay, hãy sống một mình như sừng tê giác.
105.
105.
105.
‘‘‘Evaṃ dutīyena sahā mamassa, vācābhilāpo abhisajjanā vā;
Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
‘So too, with a second person there would be conversation or attachment for me. Foreseeing this future danger, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Cũng vậy, nếu có người thứ hai, sẽ có lời qua tiếng lại hoặc sự dính mắc đối với ta. Thấy được sự nguy hiểm này trong tương lai, hãy sống một mình như sừng tê giác.
106.
106.
106.
‘‘‘Kāmā hi citrā madhurā manoramā, virūparūpena mathenti cittaṃ;
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo.
‘Sensual pleasures, indeed, are varied, sweet, and delightful; in their diverse forms they churn the mind. Seeing the danger in the strands of sensual pleasure, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Vì các dục lạc đa dạng, ngọt ngào, và làm say đắm lòng người, khuấy động tâm trí bằng nhiều hình thức khác nhau. Thấy được hiểm họa trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê giác.
107.
107.
107.
‘‘‘Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca, rogo ca sallañca bhayañca metaṃ;
Etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo.
‘This is a calamity, a tumor, a misfortune, a disease, a dart, and a fear for me. Seeing this danger in the strands of sensual pleasure, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.’
‘Đây là tai ương, là khối u, là hoạn nạn, là bệnh tật, là mũi tên, và là sự sợ hãi. Thấy được sự sợ hãi này trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê giác.
108.
108.
108.
‘‘‘Sītañca uṇhañca khudaṃ pipāsaṃ, vātātape ḍaṃsasarīsape † ca;
Sabbānipetāni abhibbhavitvā †, eko care khaggavisāṇakappo.
Cold and heat, hunger and thirst, wind and sun, biting insects and creeping things—having overcome all these, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Cả lạnh và nóng, đói và khát, gió và nắng, ruồi muỗi và các loài bò sát; hãy khắc phục tất cả những điều này và sống một mình như sừng tê giác.
109.
109.
109.
‘‘‘Nāgova yūthāni vivajjayitvā, sañjātakhandho padumī uḷāro;
Yathābhirantaṃ viharaṃ araññe, eko care khaggavisāṇakappo.
Like an elephant with well-developed shoulders, splendid and lotus-like, abandoning the herds and dwelling in the forest as it pleases, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Như voi chúa, vai nở, oai vệ, màu hoa sen, rời bỏ đàn, sống trong rừng tùy thích, hãy sống một mình như sừng tê giác.
110.
110.
110.
‘‘‘Aṭṭhānataṃ saṅgaṇikāratassa, yaṃ phassaye † sāmayikaṃ vimuttiṃ;
Ādiccabandhussa vaco nisamma, eko care khaggavisāṇakappo.
It is impossible for one who delights in company to attain even temporary liberation. Having heeded the word of the Kinsman of the Sun, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Người thích giao du không thể nào đạt được sự giải thoát tạm thời. Hãy lắng nghe lời dạy của bậc Thân Thuộc Mặt Trời và sống một mình như sừng tê giác.
111.
111.
111.
‘‘‘Diṭṭhīvisūkāni upātivatto, patto niyāmaṃ paṭiladdhamaggo;
Uppannañāṇomhi anaññaneyyo, eko care khaggavisāṇakappo.
Having overcome the tangles of views, having reached the state of certainty and obtained the path, knowledge has arisen in me; I am not to be led by another. One should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Vượt qua các tà kiến, đã đạt đến sự chắc chắn, đã đắc được đạo lộ; ta có trí tuệ đã sanh khởi, không do người khác chỉ dạy, hãy sống một mình như sừng tê giác.
112.
112.
112.
‘‘‘Nillolupo nikkuho nippipāso, nimmakkha † niddhantakasāvamoho;
Nirāsayo † sabbaloke bhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo.
Not greedy, without deceit, without thirst, without hypocrisy, having washed away the stains of delusion, being without attachment in all the world, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Không tham lam, không lừa dối, không khao khát, không che giấu lỗi lầm, đã gột sạch các cấu uế và si mê; trở thành người không còn nương tựa trong tất cả các cõi, hãy sống một mình như sừng tê giác.
113.
113.
113.
‘‘‘Pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayetha, anatthadassiṃ visame niviṭṭhaṃ;
Sayaṃ na seve pasutaṃ pamattaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
One should avoid an evil companion, one who sees what is unbeneficial, who is established in wrong ways. One should not oneself associate with one who is engrossed and heedless. One should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Nên tránh xa bạn xấu, người chỉ thấy điều bất lợi, người an trú trong tà vạy; tự mình không nên kết giao với người đam mê và phóng dật, hãy sống một mình như sừng tê giác.
114.
114.
114.
‘‘‘Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajetha, mittaṃ uḷāraṃ paṭibhānavantaṃ;
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
One should associate with a friend who is learned, a bearer of the Dhamma, noble, and endowed with ready wit. Having understood the meanings and dispelled doubt, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Nên thân cận người bạn đa văn, trì pháp, cao thượng, có trí tuệ biện tài; sau khi biết rõ các lợi ích và loại trừ nghi ngờ, hãy sống một mình như sừng tê giác.
115.
115.
115.
‘‘‘Khiḍḍaṃ ratiṃ kāmasukhañca loke, analaṅkaritvā anapekkhamāno;
Vibhūsaṭṭhānā virato saccavādī, eko care khaggavisāṇakappo.
Not finding fitting the world's sport, pleasure, and sensual happiness, being unconcerned, abstaining from adornment, a speaker of truth, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Không xem sự vui đùa, sự thích thú, và lạc thú của dục vọng trong thế gian là tốt đẹp, không luyến tiếc; từ bỏ việc trang sức, nói lời chân thật, hãy sống một mình như sừng tê giác.
116.
116.
116.
‘‘‘Puttañca dāraṃ pitarañca mātaraṃ, dhanāni dhaññāni ca bandhavāni;
Hitvāna kāmāni yathodhikāni, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned son and wife, father and mother, wealth and grain, and relatives, and sensual pleasures according to their scope, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Từ bỏ con cái, vợ, cha, mẹ, tài sản, ngũ cốc, và bà con quyến thuộc, cùng các dục vọng theo phạm vi của chúng, hãy sống một mình như sừng tê giác.
117.
117.
117.
‘‘‘Saṅgo eso parittamettha sokhyaṃ, appassādo dukkhamevettha bhiyyo;
Gaḷo † eso iti ñatvā matimā, eko care khaggavisāṇakappo.
This is an entanglement; herein happiness is slight. There is little satisfaction, and much more suffering. Knowing this to be a fish-hook, the wise one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Đây là sự dính mắc, ở đây hạnh phúc rất ít, vị ngọt nhỏ nhoi, đau khổ lại nhiều hơn; đây là cái móc câu, người trí sau khi biết như vậy, hãy sống một mình như sừng tê giác.
118.
118.
118.
‘‘‘Sandālayitvāna saṃyojanāni, jālaṃva bhetvā salilambucārī;
Aggīva daḍḍhaṃ anivattamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Having shattered the fetters, like a fish that lives in the water breaking a net; like a fire not returning to what is burnt, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Phá vỡ các kiết sử, như con cá sống trong nước phá tan lưới, như ngọn lửa không quay lại nơi đã cháy, hãy sống một mình như sừng tê giác.
119.
119.
119.
‘‘‘Okkhittacakkhū na ca pādalolo, guttindriyo rakkhitamānasāno;
Anavassuto apariḍayhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
With eyes downcast and feet not restless, with senses guarded and mind protected, not oozing with defilements and not burning, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Mắt nhìn xuống, chân không đi lang thang, các căn được phòng hộ, tâm ý được bảo vệ; không bị phiền não thấm ướt, không bị phiền não thiêu đốt, hãy sống một mình như sừng tê giác.
120.
120.
120.
‘‘‘Ohārayitvā gihibyañjanāni, sañchannapatto yathā pārichatto;
Kāsāyavattho abhinikkhamitvā, eko care khaggavisāṇakappo.
Having removed the signs of a householder, like a coral tree that has shed its leaves, clad in the ochre robe, having gone forth, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Cạo bỏ các dấu hiệu của người tại gia, như cây san hô có lá sum suê, mặc y cà sa, đã xuất gia, hãy sống một mình như sừng tê giác.
121.
121.
121.
‘‘‘Rasesu gedhaṃ akaraṃ alolo, anaññaposī sapadānacārī;
Kule kule appaṭibaddhacitto, eko care khaggavisāṇakappo.
Not creating greed for tastes, not being fickle, not supported by others, wandering for alms from house to house in succession, with a mind unattached in family after family, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Không tham đắm các vị, không dao động, không nuôi dưỡng người khác, đi khất thực tuần tự; tâm không bị ràng buộc vào bất cứ gia đình nào, hãy sống một mình như sừng tê giác.
122.
122.
122.
‘‘‘Pahāya pañcāvaraṇāni cetaso, upakkilese byapanujja sabbe;
Anissito chejja sinehadosaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned the five hindrances of the mind and dispelled all defilements, being independent, having cut off affection and aversion, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Từ bỏ năm triền cái của tâm, loại trừ tất cả các tùy phiền não; không nương tựa, cắt đứt ái luyến và sân hận, hãy sống một mình như sừng tê giác.
123.
123.
123.
‘‘‘Vipiṭṭhikatvāna sukhañca dukkhaṃ, pubbeva somanassadomanassaṃ;
Laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
Having put bodily pleasure and pain behind one, and mental joy and sorrow previously, having obtained pure equanimity and calm, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Quay lưng lại với lạc và khổ, cùng với ưu và hỷ trước đó; đã đạt được xả, sự tĩnh lặng, và thanh tịnh, hãy sống một mình như sừng tê giác.
124.
124.
124.
‘‘‘Āraddhavīriyo paramatthapattiyā, alīnacitto akusītavutti;
Daḷhanikkamo thāmabalūpapanno, eko care khaggavisāṇakappo.
With energy aroused for attaining the ultimate goal, with an unshrinking mind and an unslothful nature, firm in endeavor, endowed with strength and power, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Tinh tấn để đạt được mục đích tối thượng, tâm không co rút, không lười biếng; nỗ lực kiên cố, có đầy đủ sức mạnh và năng lực, hãy sống một mình như sừng tê giác.
125.
125.
125.
‘‘‘Paṭisallānaṃ jhānamariñcamāno, dhammesu niccaṃ anudhammacārī;
Ādīnavaṃ sammasitā bhavesu, eko care khaggavisāṇakappo.
Not abandoning seclusion and jhāna, constantly practicing in accordance with the Dhamma regarding phenomena, having comprehended the danger in states of existence, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Không từ bỏ sự độc cư và thiền định, luôn thực hành pháp tùy pháp trong các pháp; quán xét sự nguy hại trong các cõi hữu, hãy sống một mình như sừng tê giác.
126.
126.
126.
‘‘‘Taṇhakkhayaṃ patthayamappamatto, aneḷamūgo sutavā satīmā;
Saṅkhātadhammo niyato padhānavā, eko care khaggavisāṇakappo.
Aspiring for the destruction of craving, being diligent, not dull or mute, learned, mindful, having comprehended the Dhamma, steadfast and striving, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Mong cầu sự đoạn tận ái, không phóng dật, không câm điếc, đa văn, có chánh niệm; đã thẩm sát các pháp, chắc chắn, tinh cần, hãy sống một mình như sừng tê giác.
127.
127.
127.
‘‘‘Sīhova saddesu asantasanto, vātova jālamhi asajjamāno;
Padumaṃva toyena alimpamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Like a lion not trembling at sounds, like the wind not caught in a net, like a lotus unstained by water, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Như sư tử không run sợ trước tiếng động, như gió không bị vướng trong lưới, như hoa sen không bị nước làm dơ, hãy sống một mình như sừng tê giác.
128.
128.
128.
‘‘‘Sīho yathā dāṭhabalī pasayha, rājā migānaṃ abhibhuyya cārī;
Sevetha pantāni senāsanāni, eko care khaggavisāṇakappo.
Just as a lion, strong in its tusks, the king of beasts, roams having overpowered them, so one should frequent remote lodgings and wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Như sư tử, vua của các loài thú, có sức mạnh ở răng nanh, đi lại và chế ngự; nên lui tới các trú xứ xa vắng, hãy sống một mình như sừng tê giác.
129.
129.
129.
‘‘‘Mettaṃ upekkhaṃ karuṇaṃ vimuttiṃ, āsevamāno muditañca kāle;
Sabbena lokena avirujjhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Cultivating at the proper time loving-kindness, equanimity, compassion, and sympathetic joy—the liberations of mind—not being in conflict with the whole world, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Tu tập tâm giải thoát từ, xả, bi, và hỷ vào đúng thời điểm; không mâu thuẫn với tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê giác.
130.
130.
130.
‘‘‘Rāgañca dosañca pahāya mohaṃ, sandālayitvāna saṃyojanāni;
Asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhi, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned passion, aversion, and delusion, having shattered the fetters, not trembling at the exhaustion of life, one should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Từ bỏ tham, sân, và si, phá vỡ các kiết sử; không run sợ khi mạng sống chấm dứt, hãy sống một mình như sừng tê giác.
131.
131.
131.
‘‘‘Bhajanti sevanti ca kāraṇatthā, nikkāraṇā dullabhā ajja mittā;
Attatthapaññā asucīmanussā, eko care khaggavisāṇakappo.
They associate and they serve for a reason; friends without a reason are rare these days. People are wise only for their own benefit, and are impure. One should wander alone like a rhinoceros’s horn.
‘Người ta thân cận và phục vụ vì có mục đích, ngày nay bạn bè không vì mục đích thật khó tìm; con người không trong sạch, chỉ biết lợi ích cho bản thân, hãy sống một mình như sừng tê giác.
132.
132.
132.
‘‘‘Visuddhasīlā suvisuddhapaññā, samāhitā jāgariyānuyuttā;
Vipassakā dhammavisesadassī, maggaṅgabojjhaṅgagate vijaññā.
They are of purified virtue and exceedingly pure wisdom, concentrated and devoted to wakefulness. They are seers of insight, who see the special Dhamma, and they understand the things related to the path factors and the enlightenment factors.
‘Các vị có giới thanh tịnh, tuệ rất thanh tịnh, có định, thường xuyên tỉnh thức; các vị hành thiền minh sát, thấy được pháp đặc thù, biết rõ các pháp liên quan đến Bát Chánh Đạo và Thất Giác Chi.
133.
133.
133.
‘‘‘Suññappaṇidhiñca tathānimittaṃ †, āsevayitvā jinasāsanamhi;
Ye sāvakattaṃ na vajanti dhīrā, bhavanti paccekajinā sayambhū.
Having cultivated emptiness, the desireless, and likewise the signless in the Victor's teaching, those wise ones who do not proceed to discipleship become Paccekajinas, self-awakened.
‘Tu tập Không, Vô nguyện, và cũng vậy, Vô tướng, những bậc trí giả này không trở thành Thinh văn trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng; họ trở thành các vị Độc Giác Phật, tự mình giác ngộ.
134.
134.
134.
‘‘‘Mahantadhammā bahudhammakāyā, cittissarā sabbadukkhoghatiṇṇā;
Udaggacittā paramatthadassī, sīhopamā khaggavisāṇakappā.
They are of great principles, with a vast body of Dhamma, masters of their minds, who have crossed the flood of all suffering. With minds uplifted, they see the ultimate goal; they are like lions, like the rhinoceros’s horn.
‘Các vị có các pháp vĩ đại, có thân pháp phong phú, làm chủ được tâm, đã vượt qua mọi dòng sông khổ đau; tâm hân hoan, thấy được nghĩa tối thượng, giống như sư tử, giống như sừng tê giác.
135.
135.
135.
‘‘‘Santindriyā santamanā samādhī, paccantasattesu patippacārā †;
Dīpā parattha idha vijjalantā, paccekabuddhā satataṃ hitāme.
With tranquil faculties and tranquil minds, well-concentrated, they range among beings in the border regions; they are lamps for others, shining here. These Paccekabuddhas are ever beneficial.
‘Các vị có các căn an tịnh, tâm an tịnh, có định, đi lại giữa chúng sanh ở biên địa; là ngọn đèn cho người khác, tỏa sáng ở đây, các vị Độc Giác Phật này luôn mang lại lợi ích.
136.
136.
136.
‘‘‘Pahīnasabbāvaraṇā janindā, lokappadīpā ghanakañcanābhā;
Nissaṃsayaṃ lokasudakkhiṇeyyā, paccekabuddhā satatappitāme.
Having abandoned all hindrances, they are lords among men, lamps for the world, with the radiance of solid gold. Without a doubt, they are most worthy of the world's offerings. These Paccekabuddhas are ever absorbed.
‘Các vị đã từ bỏ mọi chướng ngại, là vua của loài người, là ngọn đèn của thế gian, có ánh sáng như vàng ròng; chắc chắn là bậc đáng được cúng dường nhất trên đời, các vị Độc Giác Phật này luôn hoan hỷ.
137.
137.
137.
‘‘‘Paccekabuddhānaṃ subhāsitāni, caranti lokamhi sadevakamhi;
Sutvā tathā ye na karonti bālā, caranti dukkhesu punappunaṃ te.
Having heard the well-spoken words of the Paccekabuddhas, those in the world with its devas who practice accordingly do so. But those fools who do not act thus, they wander in suffering again and again.
‘Những lời thiện thuyết của các vị Độc Giác Phật lưu hành trong thế gian cùng với chư thiên; những kẻ ngu sau khi nghe mà không thực hành theo, họ cứ mãi lang thang trong đau khổ.
138.
138.
138.
‘‘‘Paccekabuddhānaṃ subhāsitāni, madhuṃ yathā khuddamavassavantaṃ;
Sutvā tathā ye paṭipattiyuttā, bhavanti te saccadasā sapaññā’.
The well-spoken words of the Paccekabuddhas are like honey dripping from a small comb. Having heard them, those who are endowed with the practice, being wise, become seers of the truths.
‘Những lời thiện thuyết của các vị Độc Giác Phật, giống như mật ong nhỏ giọt; những ai có trí tuệ sau khi nghe mà chuyên tâm thực hành, họ trở thành người thấy được chân lý’.
139.
139.
139.
‘‘Paccekabuddhehi jinehi bhāsitā, kathā † uḷārā abhinikkhamitvā;
Tā sakyasīhena naruttamena, pakāsitā dhammavijānanatthaṃ.
These noble discourses, spoken by the Victors who are Paccekabuddhas—these were proclaimed by the Sakyan Lion, the supreme among men, after he had gone forth, for the sake of understanding the Dhamma.
Những lời dạy cao thượng được thuyết bởi các vị Độc Giác Phật, những bậc Chiến Thắng, sau khi các ngài xuất gia; những lời ấy đã được bậc Sư tử dòng Thích Ca, bậc Tối thượng nhân, tuyên thuyết lại để liễu tri chánh pháp.
140.
140.
140.
‘‘Lokānukampāya imāni tesaṃ, paccekabuddhāna vikubbitāni;
Saṃvegasaṅgamativaḍḍhanatthaṃ, sayambhusīhena pakāsitānī’’ti.
Out of compassion for the world, these teachings of those Paccekabuddhas were proclaimed by the Self-become Lion for the sake of spiritual urgency, freedom from attachment, and the growth of wisdom.
Vì lòng bi mẫn đối với thế gian, những lời này của các vị Độc Giác Phật đã được hiển thị; đã được bậc Sư tử Tự Giác Ngộ tuyên thuyết để tạo sự chấn động, từ bỏ sự dính mắc, và để tăng trưởng trí tuệ.
Paccekabuddhāpadānaṃ samattaṃ.
The Apadāna of the Individual Buddhas is concluded.
Ký sự về chư Phật Độc Giác đến đây là kết thúc.