Bản dịch
THA -ap297 — Ký Sự về Trưởng Lão Gosīsanikkhepaka
Gosīsanikkhepakattheraapadāna
BJT 2691Sau khi rời khỏi cánh cổng của tu viện, tôi đã trải lót xương sọ của loài bò (ở con đường lầy lội). Tôi thọ hưởng nghiệp của mình; điều này là quả báu của nghiệp quá khứ.
BJT 2692(Tôi có) các loài ngựa dòng Sindhu thuần chủng có tốc độ của gió, có các phương tiện di chuyển nhanh chóng, tôi thọ hưởng tất cả (các) thứ này; điều này là quả báu của (việc trải lót) xương sọ của loài bò.
BJT 2693Ôi hành động đã khéo được thực hiện bởi tôi ở thửa ruộng tốt là hành động tuyệt vời. Việc khác không có giá trị bằng một phần (mười sáu) so với hành động đã được thực hiện ở nơi Hội Chúng.
BJT 2694(Kể từ khi) tôi đã trải lót xương sọ của loài bò trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc trải lót.
BJT 2695(Trước đây) bảy mươi lăm kiếp, tôi đã là vị tên Suppatiṭṭhita, là người độc nhất có quyền uy vĩ đại, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2696Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Gosīsanikkhepakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Gosīsanikkhepakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Gosīsanikkhepaka
5. Thánh tích về trưởng lão Gosīsanikkhepaka
21.
21.
21.
‘‘Ārāmadvārā nikkhamma, gosīsaṃ santhataṃ mayā;
Anubhomi sakaṃ kammaṃ, pubbakammassidaṃ phalaṃ.
Having gone out from the monastery gate, an ox-head was spread by me. I experience my own kamma; this is the fruit of a past meritorious deed.
“Khi đi ra khỏi cổng tu viện, tôi đã trải xương đầu bò; tôi đang thọ hưởng nghiệp của mình, đây là quả của nghiệp quá khứ.”
22.
22.
22.
‘‘Ājāniyā vātajavā, sindhavā sīghavāhanā;
Anubhomi sabbametaṃ, gosīsassa idaṃ phalaṃ.
Thoroughbreds swift as the wind, and Sindh horses that are swift mounts; I experience all this. This is the fruit of the ox-head.
“Những con ngựa giống Sindh thuần chủng, nhanh như gió, những cỗ xe tốc hành; tôi đang thọ hưởng tất cả những thứ này, đây là quả của (việc cúng dường) xương đầu bò.”
23.
23.
23.
‘‘Aho kāraṃ paramakāraṃ, sukhatte sukataṃ mayā;
Saṅghe katassa kārassa, na aññaṃ kalamagghati.
Oh, what a deed, a supreme deed, was well done by me in a good field! Another deed is not worth a fraction of a meritorious deed done unto the Saṅgha.
“Ồ, việc làm, việc làm tối thượng, đã được tôi thực hiện tốt đẹp ở mảnh ruộng tốt (Tăng đoàn). Việc làm khác không bằng một phần nhỏ của việc làm đã được thực hiện ở Tăng đoàn.”
24.
24.
24.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ sīsaṃ santhariṃ ahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, santharassa idaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons from this one, when I spread that head, I have since known no woeful state; this is the fruit of that mat.
“Cách đây chín mươi bốn kiếp, tôi đã trải xương đầu ấy. Tôi không hề biết đến đọa xứ, đây là quả của việc trải ra.”
25.
25.
25.
‘‘Pañcasattatikappamhi, suppatiṭṭhitanāmako;
Eko āsiṃ mahātejo, cakkavattī mahabbalo.
In the seventy-fifth aeon, I was a wheel-turning monarch named Suppatiṭṭhita, of great majesty and great strength.
“Vào kiếp thứ bảy mươi lăm, tôi đã một lần là vị Chuyển luân vương tên là Suppatiṭṭhita, có đại oai lực và sức mạnh vĩ đại.”
26.
26.
26.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā gosīsanikkhepako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Gosīsanikkhepaka recited these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Gosīsanikkhepaka đã nói những câu kệ này.
Gosīsanikkhepakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth apadāna, that of the Elder Gosīsanikkhepaka, is concluded.
Thánh tích về trưởng lão Gosīsanikkhepaka, phần thứ năm.