Bản dịch
THA -ap292 — Ký Sự về Trưởng Lão Pubbaṅgamiya
10 Pubbaṅgamiyattheraapadāna
BJT 2665Nhằm đạt đến mục đích tối thượng, chúng tôi tám mươi bốn ngàn người đã xuất gia, không còn sở hữu gì. Trong số các vị ấy, tôi đã là người đứng đầu.
BJT 2666Và các vị này được thanh tịnh, không bị chộn rộn, dầu còn tham ái và còn sự tái sanh. Được tịnh tín, các vị này đã tự tay phục vụ (chư Thánh nhân) một cách tôn kính.
BJT 2667Có các lậu hoặc đã được đoạn tận, có sân hận đã được tống khứ, có phận sự đã được hoàn thành, không còn lậu hoặc, các đấng Tự Chủ không bị đánh bại đã lan tỏa với tâm từ ái.
BJT 2668Sau khi phục vụ chư vị đã tự mình giác ngộ, tôi có được niệm, nhưng tôi đã gần kề sự chết. Và chúng tôi đã đi đến bản thể chư Thiên.
BJT 2669(Kể từ khi) tôi đã gìn giữ giới hạnh trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tự chế ngự.
BJT 2670Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pubbaṅgamiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pubbaṅgamiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Lá cây, (các) trái cây, sự đi ra tiếp đón, vị có một bông hoa, và (vị có) bông hoa maghava, người phục vụ, sự nghiệp (của chư Phật), sự xuất gia, vị phục vụ chư Phật, vị đứng đầu; (tổng cộng) có bốn mươi tám câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Paṇṇadāyaka là phần thứ hai mươi chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Pubbaṅgamiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Pubbaṅgamiya
10. Thánh tích của trưởng lão Pubbaṅgamiya (Người đi trước).
43.
43.
43.
‘‘Cullāsītisahassāni, pabbajimha akiñcanā;
Tesaṃ pubbaṅgamo āsiṃ, uttamatthassa pattiyā.
Eighty-four thousand of us, possessing nothing, went forth. For the attainment of the highest goal, I was their leader.
Để đạt được mục đích tối thượng, tám mươi bốn ngàn chúng con đã xuất gia, không còn vướng bận. Con đã là người đi trước của họ.
44.
44.
44.
‘‘Sarāgā sabhavā † cete, vippasannamanāvilā;
Upaṭṭhahiṃsu sakkaccaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
These ones, with passion and with becoming, their minds exceptionally clear and untroubled, served respectfully with their own hands, being devoted.
Những vị ấy còn có tham ái, còn có sự hiện hữu, (nhưng) có tâm ý trong sạch, không vẩn đục. Với lòng tịnh tín, họ đã cung kính hầu hạ bằng chính đôi tay của mình.
45.
45.
45.
‘‘Khīṇāsavā vantadosā, katakiccā anāsavā;
Phariṃsu mettacittena, sayambhū aparājitā.
With taints destroyed, faults vomited out, their task done, and taintless, the Self-become, the Unconquered, pervaded all with a mind of loving-kindness.
Các bậc đã tận trừ lậu hoặc, đã từ bỏ các lỗi lầm, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc, các bậc Tự Sinh, các đấng Bất Bại đã an trú, biến mãn với tâm từ.
46.
46.
46.
‘‘Tesaṃ upaṭṭhahitvāna, sambuddhānaṃ patissato;
Maraṇañca anuppatto, devattañca agamhase.
Having attended upon those Perfectly Enlightened Ones, being mindful, we reached death and went to a divine state.
Sau khi đã chánh niệm hầu hạ các đấng Chánh Đẳng Giác ấy, khi đã mệnh chung, chúng con đã đi đến cảnh giới chư Thiên.
47.
47.
47.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ sīlamanupālayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, saññamassa idaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons from this one, because of the virtue I maintained, I have not known an unfortunate destination since then. This is the fruit of self-restraint.
Kể từ kiếp thứ chín mươi bốn tính từ kiếp này, con đã hộ trì giới luật nào. Con không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của sự thu thúc.
48.
48.
48.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích... (v.v.)... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pubbaṅgamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable elder Pubbaṅgamiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Pubbaṅgamiya đã nói những câu kệ này.
Pubbaṅgamiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Pubbaṅgamiya.
Thánh tích của trưởng lão Pubbaṅgamiya, câu chuyện thứ mười.
The Chapter of the Leaf-Giver, the Twenty-Ninth.
Phẩm Paṇṇadāyaka (Thí Chủ Lá Cây), phẩm thứ hai mươi chín.
Tassuddānaṃ –
The summary of this is:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Paṇṇaṃ phalaṃ paccuggamaṃ, ekapupphi ca maghavā;
Upaṭṭhākāpadānañca, pabbajjā buddhupaṭṭhāko;
Pubbaṅgamo ca gāthāyo, aṭṭhatālīsa kittitā.
Paṇṇa, Phala, Paccuggama, Ekapupphi, and Maghavā; Upaṭṭhāka, Padāna, Pabbajjā, Buddhupaṭṭhāka, and Pubbaṅgama. Forty-eight verses are proclaimed.
Trưởng lão Paṇṇa, Phala, Paccuggama, Ekapupphi, và Maghavā; Upaṭṭhāka và Padāna, Pabbajjā, Buddhupaṭṭhāka; và Pubbaṅgamo. Các câu kệ được kể là bốn mươi tám.