Bản dịch
THA -ap286 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekapupphiya
Ekapupphiyattheraapadāna
BJT 2638Lúc bấy giờ, tôi đã là con yêu tinh ở cánh cổng phía nam. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, tợ như mặt trời có tia sáng màu vàng.
BJT 2639Tôi đã dâng cúng một bông hoa đến bậc Tối Thượng Nhân Vipassī, vị có sự tầm cầu lợi ích cho tất cả thế gian, bậc Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 2640Kể từ khi tôi đã dâng cúng bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2641Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Ekapupphiyattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Ekapupphiya
4. Thiên sử về Trưởng lão Ekapupphiya
16.
16.
16.
‘‘Dakkhiṇamhi duvāramhi, pisāco āsahaṃ tadā;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, pītaraṃsiṃva bhāṇumaṃ.
“At the southern gate, I was then a pisāca. I saw the stainless Buddha, radiant like the yellow-rayed sun.”
“Khi ấy, ở tại cổng phía Nam, tôi đã là loài ma quỷ pisāca. Tôi đã nhìn thấy đấng Giác Ngộ, là bậc không còn cấu uế, là đấng có hào quang giống như mặt trời.”
17.
17.
17.
‘‘Vipassissa naraggassa, sabbalokahitesino;
Ekapupphaṃ mayā dinnaṃ, dvipadindassa tādino.
“To Vipassī, the foremost of men, who seeks the welfare of all the world, to the lord of bipeds, the steadfast one, a single flower was given by me.”
“Một đóa hoa đã được tôi dâng cúng đến đức Vipassī, là bậc tối thượng giữa loài người, là bậc mưu tìm lợi ích cho toàn thể thế gian, là đấng Tối Thắng của chúng hai chân, là bậc Tādin.”
18.
18.
18.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-one aeons ago from this aeon, when I gave that flower, I have not known a woeful state. This is the fruit of worshipping the Buddha.”
“Vào thời điểm chín mươi mốt kiếp tính từ kiếp này, khi ấy tôi đã dâng cúng đóa hoa nào; (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.”
19.
19.
19.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân tích ... (v.v.) ... giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable Elder Ekapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Ekapupphiya đã nói những câu kệ này.
Ekapupphiyattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Ekapupphiya is concluded.
Thiên sử về Trưởng lão Ekapupphiya là thiên thứ tư.