Bản dịch
THA -ap277 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekañjaliya
5 Ekañjalikattheraapadāna
BJT 2600Tôi đã dâng cúng khu vực sinh sống (cô tịch) đến vị Sa-môn bậc Đại Ẩn Sĩ đang cư ngụ tại cội cây sung, nơi tấm thảm lá cây đã được xác định.
BJT 2601Sau khi chắp tay lên, tôi đã trải ra tấm thảm bằng bông hoa đến (đức Phật) Tissa, bậc Chúa Tể của loài người, đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.
BJT 2602(Kể từ khi) tôi đã thực hiện tấm thảm bằng bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của tấm thảm.
BJT 2603Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là bậc thống lãnh loài người tên Ekañjalika, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2604Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekañjaliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Ekañjalikattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Ekañjalika
5. Phẩm truyện về Trưởng lão Ekañjalika
19.
19.
19.
‘‘Udumbare vasantassa, niyate paṇṇasanthare;
Vutthokāso mayā dinno, samaṇassa mahesino.
To the great sage, the ascetic, dwelling at an Udumbara tree on a permanent spread of leaves, a dwelling place was given by me.
Đến bậc Sa-môn, bậc Đại Ẩn Sĩ, đang trú ngụ ở cây sung trên tấm lót bằng lá cây đã được trải sẵn, chỗ ở đã được tôi dâng cúng.
20.
20.
20.
‘‘Tissassa dvipadindassa, lokanāthassa tādino;
Añjaliṃ paggahetvāna, santhariṃ pupphasantharaṃ.
Having raised my joined hands in reverence, I spread a covering of flowers for Tissa, the lord of bipeds, the protector of the world, the steadfast one.
Sau khi chắp tay (đảnh lễ) đức Phật Tissa, bậc Tối Thắng trong loài hai chân, đấng Bảo Hộ thế gian, bậc Tādino, tôi đã trải tấm thảm hoa.
21.
21.
21.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ kariṃ pupphasantharaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, santharassa idaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons from now, I made that flower-covering. I have known no woeful state; this is the fruit of that covering.
Kể từ kiếp thứ chín mươi hai tính từ đây, (do phước báu) việc trải thảm hoa mà tôi đã thực hiện; tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc trải thảm.
22.
22.
22.
‘‘Ito cuddasakappamhi, ahosiṃ manujādhipo;
Ekaañjaliko nāma, cakkavattī mahabbalo.
Fourteen aeons from now, I was a ruler of men named Ekañjalika, a wheel-turning monarch of great power.
Vào kiếp thứ mười bốn tính từ đây, tôi đã là vị vua của nhân loại, tên là Ekaañjalika, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.
23.
23.
23.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been done.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekañjaliko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Ekañjalika spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Ekañjalika đã nói những câu kệ này.
Ekañjalikattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Ekañjalika is concluded.
Phẩm truyện về Trưởng lão Ekañjalika là phẩm thứ năm.