Bản dịch
THA -ap272 — Ký Sự về Trưởng Lão Taraṇiya
Taraṇiyattheraapadāna
BJT 2578Bậc Toàn Giác Vipassī có màu da vàng chói là bậc xứng đáng sự cúng dường. Bậc Đạo Sư dẫn đầu Hội Chúng tỳ khưu đã đứng ở bờ sông.
BJT 2579Thuyền bè là phương tiện vượt qua biển cả không được tìm thấy ở tại nơi ấy. Tôi đã đi ra khỏi dòng sông và đã đưa đấng Lãnh Đạo Thế Gian sang (sông).
BJT 2580(Kể từ khi) tôi đã đưa bậc Tối Thượng Nhân sang (sông) trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đưa sang (sông).
BJT 2581Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Taraṇiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị có sự thảy lên (bông hoa), dầu thoa, vị có (bông hoa) aḍḍhacanda, vị dâng cúng cây đèn, vị dâng cúng củ biḷāli, con cá, vị tên Javahaṁsaka, vị dâng cúng bông hoa salala, loài quỷ dữ, vị đưa sang (sông) là mười. Và ở đây được ghi nhận là bốn mươi mốt câu kệ cả thảy.
Phẩm Ākāsukkhipiya là phẩm thứ hai mươi bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Taraṇiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Taraṇiya.
10. Thánh tích của trưởng lão Taraṇiya
39.
39.
39.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho, vipassī dakkhiṇāraho;
Nadītīre ṭhito satthā, bhikkhusaṅghapurakkhato.
The Perfectly Enlightened One, Vipassī, of golden complexion and worthy of offerings, the Teacher, surrounded by the community of bhikkhus, stood on the riverbank.
“Bậc Chánh Đẳng Giác Vipassī có màu da vàng ròng, là bậc đáng được cúng dường. Bậc Đạo Sư, được chúng Tỳ-khưu vây quanh, đã đứng ở trên bờ sông.
40.
40.
40.
‘‘Nāvā na vijjate tattha, santāraṇī mahaṇṇave;
Nadiyā abhinikkhamma, tāresiṃ lokanāyakaṃ.
There was no ferry boat there in that great river for crossing. Emerging from the river, I ferried the world-leader across.
“Ở nơi biển lớn ấy, không có thuyền bè để đưa qua. Sau khi đi ra khỏi dòng sông, tôi đã đưa bậc Lãnh Đạo Thế Gian qua sông.
41.
41.
41.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ tāresiṃ naruttamaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, taraṇāya idaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons from this one, I ferried that best of men across. Since then, I have not known a woeful state; this is the fruit of that ferrying.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, tôi đã đưa bậc Tối Thượng Nhân nào qua sông, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc đưa qua sông.
42.
42.
42.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been done.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā taraṇiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Taraṇiya spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Taraṇiya đã nói những câu kệ này như vầy.
Taraṇiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Taraṇiya is concluded.
Thánh tích của trưởng lão Taraṇiya là phần thứ mười.
The Padumukkhipa Chapter, the twenty-seventh.
Phẩm Padumukkhipa là phẩm thứ hai mươi bảy.
Tassuddānaṃ –
The summary of this is:
Phần tóm lược ở đây là:
Ukkhipī telacandī ca, dīpado ca biḷālido;
Maccho javo saḷalado, rakkhaso taraṇo dasa;
Gāthāyo cettha saṅkhātā, tālīsaṃ cekameva cāti.
Ukkhipī, Telacandī, and Dīpado, Biḷālido, Maccho, Javo, Saḷalado, Rakkhaso, Taraṇo—these ten. Here forty-one verses are enumerated.
Ukkhipī, Telacandī, Dīpada, và Biḷālida, Maccha, Java, Saḷalada, Rakkhasa, Taraṇa là mười vị. Số lượng các câu kệ được biết ở đây là bốn mươi mốt.