Bản dịch
THA -ap271 — Ký Sự về Trưởng Lão Upāgatāsaya
9 Upāgatāsayattheraapadāna
BJT 2573Ở trung tâm của núi Hi-mã-lạp có cái hồ nước đã khéo được tạo lập. Tôi đã là loài quỷ dữ ở tại nơi ấy, có bản chất quấy rối, là kẻ gây nên nỗi hãi sợ.
BJT 2574Có ý muốn tiếp độ tôi, bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī ấy đã đi đến gặp tôi.
BJT 2575Khi bậc Đại Hùng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu đã đi đến gần, tôi đã đi ra khỏi nơi trú ẩn và đã đảnh lễ đấng Đạo Sư.
BJT 2576(Kể từ khi) tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đảnh lễ.
BJT 2577Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Upāgatāsayađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Upāgatāsayattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Upāgatāsaya.
9. Thánh tích của trưởng lão Upāgatāsaya
34.
34.
34.
‘‘Himavantassa vemajjhe, saro āsi sunimmito;
Tatthāhaṃ rakkhaso āsiṃ, heṭhasīlo bhayānako.
In the middle of the Himavanta, there was a well-created lake. There I was a terrifying rakkhasa of a cruel nature.
“Ở giữa dãy Himavanta, có hồ nước được tạo dựng khéo léo. Ở nơi ấy, tôi đã là dạ-xoa đáng sợ hãi, có tánh hay làm hại.
35.
35.
35.
‘‘Anukampako kāruṇiko, vipassī lokanāyako;
Mamuddharitukāmo so, āgacchi mama santikaṃ.
Compassionate, merciful, the world's leader, Vipassī, wishing to lift me up, came into my presence.
“Đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, bậc có lòng thương xót, bậc có lòng bi mẫn, vị ấy có ý muốn cứu vớt tôi nên đã đi đến gần tôi.
36.
36.
36.
‘‘Upāgataṃ mahāvīraṃ, devadevaṃ narāsabhaṃ;
Āsayā abhinikkhamma, avandiṃ satthuno ahaṃ.
Having emerged from my abode, I paid homage to the Teacher, the Great Hero who had approached, the god beyond gods, the Leader of men.
“Sau khi đi ra khỏi chỗ ở, tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư, bậc Đại Hùng, bậc Trời của các trời, bậc Ngưu Vương trong loài người, là vị đã đi đến gần.
37.
37.
37.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ vandiṃ purisuttamaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, vandanāya idaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons from this one, I paid homage to that supreme person. Since then, I have not known a woeful state; this is the fruit of paying homage.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân nào, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc đảnh lễ.
38.
38.
38.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been done.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā upāgatāsayo † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Upāgatāsaya spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Upāgatāsaya đã nói những câu kệ này như vầy.
Upāgatāsayattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Upāgatāsaya is concluded.
Thánh tích của trưởng lão Upāgatāsaya là phần thứ chín.