Bản dịch
THA -ap270 — Ký Sự về Trưởng Lão Salalapupphiya
8 Saḷalapupphiyattheraapadāna
BJT 2569Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật Vipassī được bao phủ bằng mạng lưới hào quang.
BJT 2570Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, và với niềm phỉ lạc tột độ, tôi đã cầm lấy bông hoa salala và đã rải rắc đến (đức Phật) Vipassī.
BJT 2571(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2572Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Salalapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Saḷalapupphiyattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Saḷalapupphiya
Thiên sử về trưởng lão Saḷalapupphiya
30.
30.
30.
‘‘Candabhāgānadītīre, ahosiṃ kinnaro tadā;
Vipassiṃ addasaṃ buddhaṃ, raṃsijālasamākulaṃ.
On the bank of the Candabhāgā River, I was a kinnara then. I saw the Buddha Vipassī, suffused with a net of rays.
“Trên bờ sông Candabhāgā, khi ấy tôi là một vị khẩn-na-la. Tôi đã nhìn thấy đức Phật Vipassī, vị tràn ngập trong mạng lưới hào quang.”
31.
31.
31.
‘‘Pasannacitto sumano, paramāya ca pītiyā;
Paggayha saḷalaṃ pupphaṃ, vipassiṃ okiriṃ ahaṃ.
With a serene and joyful mind, and with supreme delight, I took a pine flower and scattered it over the Buddha Vipassī.
8. “Với tâm tịnh tín, với ý hoan hỷ, và với niềm vui cao thượng, sau khi cầm lấy đóa hoa thông, tôi đã rải lên đức Phật Vipassī.”
32.
32.
32.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons from this world cycle, when I venerated him with that flower, I have known no woeful state; this is the fruit of venerating the Buddha.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, khi ấy tôi đã cúng dường đóa hoa. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
33.
33.
33.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā saḷalapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Saḷalapupphiya spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Saḷalapupphiya đã nói những câu kệ này như vầy.
Saḷalapupphiyattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Saḷalapupphiya is concluded.
Thánh tích của trưởng lão Saḷalapupphiya là phần thứ tám.