Bản dịch
THA -ap267 — Ký Sự về Trưởng Lão Biḷālidāyaka
Biḷālidāyakattheraapadāna
BJT 2557Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên là Romaso. Ở tại chân ngọn núi ấy, có vị Sa-môn có các giác quan đã được tu tập.
BJT 2558Tôi đã cầm lấy củ biḷālī và đã dâng cúng đến vị Sa-môn. Bậc Đại Hùng, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại, đã nói lời tùy hỷ rằng:
BJT 2559“Ngươi đã dâng cúng củ biḷālī đến Ta với tâm ý trong sạch. Trong khi (ngươi) tái sanh vào cõi hữu, quả báu sẽ sanh khởi đến ngươi.”
BJT 2560(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng củ biḷālī trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của củ biḷālī.
BJT 2561Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Biḷālidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Biḷālidāyakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Biḷālidāyaka
Thiên sử về trưởng lão Biḷālidāyaka
18.
18.
18.
‘‘Himavantassāvidūre, romaso nāma pabbato;
Tamhi pabbatapādamhi, samaṇo bhāvitindriyo.
Not far from the Himālaya, there is a mountain named Romasa. At the foot of that mountain dwells an ascetic with developed faculties.
“Không xa dãy Hy-mã-lạp, có ngọn núi tên là Romasa. Tại chân núi ấy, có vị Sa-môn với các căn đã được tu tập.”
19.
19.
19.
‘‘Biḷāliyo gahetvāna, samaṇassa adāsahaṃ;
Anumodi mahāvīro, sayambhū aparājito.
Taking taro roots, I gave them to the ascetic. The Great Hero, the Self-Awakened, the Unconquered One, rejoiced in my merit.
5. “Sau khi lấy các củ môn dại, tôi đã dâng đến vị Sa-môn. Bậc Đại Hùng, bậc Tự Giác, bậc Bất Bại đã tùy hỷ.”
20.
20.
20.
‘‘Biḷālī te mama dinnā, vippasannena cetasā;
Bhave nibbattamānamhi, phalaṃ nibbattataṃ tava.
‘You gave me these taro roots with a very serene mind. As you arise in future existences, may the fruit thereof manifest for you.’
“‘Ngươi đã dâng củ môn dại cho ta với tâm tịnh tín. Khi tái sanh trong các cõi, nguyện cho quả phước sanh khởi đến ngươi.’”
21.
21.
21.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ biḷālimadāsahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, biḷāliyā idaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons from this world cycle, when I gave that taro root, I have known no woeful state; this is the fruit of that taro root offering.
“Vào kiếp thứ chín mươi tư tính từ đây, khi ấy tôi đã dâng củ môn dại. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả của (việc dâng) củ môn dại.”
22.
22.
22.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā biḷālidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Biḷālidāyaka spoke these verses.
Như thế, quả thật trưởng lão Biḷālidāyaka đã nói những câu kệ này.
Biḷālidāyakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth apadāna, of the Elder Biḷālidāyaka, is concluded.
Thiên sử về trưởng lão Biḷālidāyaka, phần thứ năm.