Bản dịch
THA -ap265 — Ký Sự về Trưởng Lão Aḍḍhacandiya
Aḍḍhacandiyattheraapadāna
BJT 2549Bông hoa aḍḍhacanda đã được tôi dâng cúng ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Thế Tôn Tissa là loại thảo mộc sanh trưởng ở trên trái đất.
BJT 2550(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.
BJT 2551Trước đây hai mươi lăm kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Devala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2552Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aḍḍhacandiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Aḍḍhacandiyattheraapadānaṃ
The Apadāna of the Elder Aḍḍhacandiya
3. Thánh tích về trưởng lão Aḍḍhacandiya
10.
10.
10.
‘‘Tissassa kho bhagavato, bodhiyā pādaputtame;
Aḍḍhacandaṃ mayā dinnaṃ, dharaṇīruhapādape.
To the Bodhi tree of the Blessed One Tissa, the most excellent of trees, a tree that grows upon the earth, I gave an offering in the shape of a half-moon.
‘Quả thật, đối với cây Bồ-đề của đức Thế Tôn Tissa, là cây cao quý nhất, là cây mọc lên từ mặt đất, hình bán nguyệt đã được tôi dâng cúng.’
11.
11.
11.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ canda † mabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bodhipūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons from this world cycle, when I offered that half-moon shape, I have known no woeful state; this is the fruit of venerating the Bodhi tree.
‘Kể từ đại kiếp thứ chín mươi hai tính từ đây, khi tôi đã dâng cúng hình mặt trăng ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường cây Bồ-đề.’
12.
12.
12.
‘‘Pañcavīse ito kappe, devalo nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Twenty-five aeons from this world cycle, I was a khattiya named Devala, a wheel-turning monarch endowed with the seven treasures and of great strength.
‘Vào đại kiếp thứ hai mươi lăm tính từ đây, (tôi đã là) vị vua Sát-đế-lỵ tên là Devala, người được thành tựu bảy báu vật, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.’
13.
13.
13.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
‘Bốn Tuệ phân tích ... đến ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.’
Itthaṃ sudaṃ āyasmā aḍḍhacandiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Aḍḍhacandiya spoke these verses.
Quả thật, trưởng lão Aḍḍhacandiya đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Aḍḍhacandiyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third apadāna, of the Elder Aḍḍhacandiya, is concluded.
Thánh tích về trưởng lão Aḍḍhacandiya, phần thứ ba.