Bản dịch
THA -ap262 — Ký Sự về Trưởng Lão Aggajapupphiya
Aggapupphiyattheraapadāna
BJT 2535(Tôi đã nhìn thấy) đấng Toàn Giác Sikhī có màu da vàng chói ngồi ở trong vùng đồi núi đang chiếu sáng các hào quang như là ngọn lửa.
BJT 2536Tôi đã cầm lấy bông hoa aggaja và đã đi đến gần đấng Tối Thượng Nhân. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật (bông hoa ấy).
BJT 2537(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2538(Trước đây) hai mươi lăm kiếp, tôi đã là vị tên Amita, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2539Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aggajapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị tán dương, một bữa ăn, giàn hỏa thiêu, bông hoa campaka, bông hoa sattapāṭali, đôi dép, bó hoa, lá cây, vị dâng cúng cái chòi, bông hoa aggaja; và các câu kệ đã được tính đếm ở đây là bốn mươi mốt câu cả thảy.
Phẩm Thomaka là phẩm thứ hai mươi sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Aggapupphiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Aggapupphiya
10. Thánh tích về Trưởng lão Aggapupphiya
37.
37.
37.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, nisinnaṃ pabbatantare;
Obhāsayantaṃ raṃsena †, sikhinaṃ sikhinaṃ yathā.
I saw the Fully Enlightened One, Sikhī, of golden complexion, seated in a mountain cleft, illuminating with his rays, like a blazing fire.
“Tôi đã nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Giác có màu sắc như vàng ròng, đang ngự ở khe núi, đang tỏa sáng với các tia sáng, giống như ngọn lửa có mào lửa.”
38.
38.
38.
‘‘Aggajaṃ pupphamādāya, upāgacchiṃ naruttamaṃ;
Pasannacitto sumano, buddhassa abhiropayiṃ.
Taking the most excellent flower, I approached the highest of men. With a serene and joyful mind, I offered it to the Buddha.
“Sau khi đã lấy đóa hoa cao quý, tôi đã đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân. Với tâm ý trong sạch, với tâm hoan hỷ, tôi đã dâng cúng đến đức Phật.”
39.
39.
39.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons from now, when I worshipped with that flower, I have known no woeful state since; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Kể từ kiếp này, trong ba mươi mốt kiếp, tôi đã cúng dường đóa hoa nào, (do quả ấy) tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.”
40.
40.
40.
‘‘Pañcavīsatikappamhi, ahosi amitogato †;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the twenty-fifth aeon, I was a wheel-turning monarch named Amitogata, endowed with the seven treasures and of great power.
“Trong kiếp thứ hai mươi lăm, tôi đã là vị vua tên Amitogato, người sở hữu bảy báu vật, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.”
41.
41.
41.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā aggapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable elder Aggapupphiya spoke these verses.
Như thế, Đại đức Trưởng lão Aggapupphiyo đã nói những câu kệ này.
Aggapupphiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Aggapupphiya.
Thánh tích về trưởng lão Aggapupphiya, phần thứ mười.
The twenty-sixth chapter, the Thomaka Vagga.
Phẩm Thomaka, phẩm thứ hai mươi sáu.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần kệ tóm lược như sau: –
Thomakekāsanacitakaṃ, campako sattapāṭali;
Pānadhi † mañjarī paṇṇaṃ, kuṭido aggapupphiyo;
Gāthāyo gaṇitā cettha, ekatālīsameva cāti.
Thomaka, Ekāsana, Citaka, Campaka, Sattapāṭali, Pānadhi, Mañjarī, Paṇṇa, Kuṭida, and Aggapupphiya. And here the verses are counted as forty-one.
Thomaka, Ekāsana, Citaka, Campaka, Sattapāṭali, Pānadhi, Mañjarī, Paṇṇa, Kuṭida, và Aggapupphiya. Các câu kệ ở đây đã được tính đếm là bốn mươi mốt câu.