Bản dịch
THA -ap261 — Ký Sự về Trưởng Lão Kuṭidāyaka
Kuṭidāyakattheraapadāna
BJT 2531Lúc bấy giờ, là vị hành pháp ngụ ở rừng đấng Toàn Giác đã cư ngụ ở gốc cây. Tôi đã thực hiện gian nhà lá và đã dâng cúng đến bậc không bị đánh bại.
BJT 2532Kể từ khi tôi đã cúng dường cái chòi lá trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cái chòi.
BJT 2533Trước đây hai mươi tám kiếp, mười sáu vị vua được gọi là Sabbattha-abhivassī đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 2534Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kuṭidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Kuṭidāyakattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Kuṭidāyaka
9. Thánh tích về Trưởng lão Kuṭidāyaka
33.
33.
33.
‘‘Vipinacārī sambuddho, rukkhamūle vasī tadā;
Paṇṇasālaṃ karitvāna, adāsiṃ aparājite.
The Fully Enlightened One, a wanderer in the forest, was at that time dwelling at the foot of a tree. Having made a leaf-hut, I gave it to the Unconquered One.
“Khi ấy, bậc Chánh Đẳng Giác, vị đi trong rừng, đã trú ngụ ở cội cây. Sau khi đã làm cái am lá, tôi đã dâng cúng đến bậc Vô Năng Thắng.”
34.
34.
34.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ paṇṇakuṭikaṃ adaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, kuṭidānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons from now, when I gave that leaf-hut, I have known no woeful state since; this is the fruit of the gift of a hut.
“Kể từ kiếp này, trong chín mươi mốt kiếp, tôi đã dâng cúng am lá nào, (do quả ấy) tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc bố thí cái am.”
35.
35.
35.
‘‘Aṭṭhavīse † ito kappe, soḷasāsiṃsu rājāno;
Sabbattha abhivassīti, vuccare cakkavattino.
Twenty-eight aeons from now, I was a king sixteen times. They are called wheel-turning monarchs because they hold sway everywhere.
“Kể từ kiếp này, trong hai mươi tám kiếp, tôi đã là vua mười sáu lần; các vị ấy được gọi là Chuyển Luân Vương, những vị thống trị khắp nơi.”
36.
36.
36.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kuṭidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable elder Kuṭidāyaka spoke these verses.
Như thế, Đại đức Trưởng lão Kuṭidāyako đã nói những câu kệ này.
Kuṭidāyakattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Kuṭidāyaka.
Thánh tích về Trưởng lão Kuṭidāyaka là phần thứ chín.