Bản dịch
THA -ap260 — Ký Sự về Trưởng Lão Paṇṇadāyaka
Paṇṇadāyakattheraapadāna
BJT 2526Tôi là vị mặc y phục bằng vỏ cây ở ngọn núi Hi-mã-lạp. Thu thúc trong các điều kiện hạn chế, tôi có thức ăn là muối và lá cây.
BJT 2527Vào lúc bữa ăn sáng đã điểm, (đức Phật) Siddhattha đã đi đến gặp tôi. Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng lên các thứ ấy đến đức Phật.
BJT 2528Kể từ khi tôi đã dâng cúng lá cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lá cây.
BJT 2529(Trước đây) hai mươi bảy kiếp, tôi đã là đức vua Yadatthiya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2530Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paṇṇadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Paṇṇadāyaka là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Paṇṇadāyakattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Paṇṇadāyaka
8. Thánh tích về Trưởng lão Paṇṇadāyaka
28.
28.
28.
‘‘Pabbate himavantamhi, vākacīradharo ahaṃ;
Aloṇapaṇṇabhakkhomhi, niyamesu ca saṃvuto.
On the Himālaya mountain, I was a wearer of bark-cloth; I ate unsalted leaves, and I was well-restrained in my observances.
“Ở tại núi Hy-mã-lạp, tôi là người mặc vỏ cây, tôi là người ăn lá cây không có muối, và được thu thúc trong các giới luật.”
29.
29.
29.
‘‘Pātarāse anuppatte, siddhattho upagacchi maṃ;
Tāhaṃ buddhassa pādāsiṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
When the time for the morning meal arrived, Siddhattha approached me. With a serene mind, I gave it to the Buddha with my own hands.
“Khi bữa ăn sáng đã đến, đức Phật Siddhattha đã đi đến gần tôi. Khi ấy, tôi với tâm trong sạch đã dâng cúng lá cây đến đức Phật bằng chính đôi tay của mình.”
30.
30.
30.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ paṇṇamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, paṇṇadānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons from now, when I gave that leaf, I have known no woeful state since; this is the fruit of the gift of a leaf.
“Kể từ kiếp này, trong chín mươi bốn kiếp, khi ấy tôi đã dâng cúng lá cây nào, (do quả ấy) tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc bố thí lá cây.”
31.
31.
31.
‘‘Sattavīsatikappamhi, rājā āsiṃ sadatthiyo †;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the twenty-seventh aeon from now, I was a king named Sadatthiyo, endowed with the seven treasures, a wheel-turning monarch of great power.
“Trong kiếp thứ hai mươi bảy, tôi đã là vị vua tên Sadatthiyo, người sở hữu bảy báu vật, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.”
32.
32.
32.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā paṇṇadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable elder Paṇṇadāyaka spoke these verses.
Như thế, Đại đức Trưởng lão Paṇṇadāyako đã nói những câu kệ này.
Paṇṇadāyakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The eighth Apadāna of the Elder Paṇṇadāyaka.
Thánh tích về Trưởng lão Paṇṇadāyaka là phần thứ tám.