Bản dịch
THA -ap259 — Ký Sự về Trưởng Lão Mañjaripūjaka
Mañjaripūjakattheraapadāna
BJT 2521Sau khi đã thực hiện một bó (hoa), tôi đã bước đi ở đường lộ. Tôi đã nhìn thấy bậc Cao Cả trong số các vị Sa-môn được tháp tùng bởi Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 2522Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, và với niềm phỉ lạc tột độ, tôi đã cầm lấy (bó hoa) bằng cả hai tay và đã dâng lên đức Phật.
BJT 2523(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 2524Trước đây bảy mươi ba kiếp, tôi đã là vị lãnh chúa tên Jotiya, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2525Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mañjaripūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Mañjaripūjakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Mañjaripūjaka
7. Thánh tích về Trưởng lão Mañjaripūjaka
23.
23.
23.
‘‘Mañjarikaṃ karitvāna, rathiyaṃ paṭipajjahaṃ;
Addasaṃ samaṇānaggaṃ, bhikkhusaṅghapurakkhataṃ.
Having made a flower cluster, I proceeded along the road; I saw the foremost of ascetics, attended by the community of monks.
“Sau khi đã kết chùm hoa, tôi đã đi trên đường. Tôi đã nhìn thấy vị đứng đầu các Sa-môn, được hội chúng Tỳ-khưu vây quanh.
24.
24.
24.
‘‘Pasannacitto sumano, paramāya ca pītiyā;
Ubho hatthehi paggayha, buddhassa abhiropayiṃ.
With a serene and gladdened mind, and with supreme joy, having raised it with both hands, I offered it to the Buddha.
“Với tâm ý trong sạch, với tâm hoan hỷ, và với niềm vui thích tột bậc, tôi đã nâng lên bằng cả hai tay và đã dâng cúng đến đức Phật.”
25.
25.
25.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons ago, when I worshipped with that flower, I have not known a woeful state since. This is the fruit of offering a flower.
“Kể từ kiếp này, trong chín mươi hai kiếp, tôi đã cúng dường đóa hoa nào, (do quả ấy) tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc cúng dường hoa.”
26.
26.
26.
‘‘Ito tesattatikappe, eko āsiṃ mahīpati;
Jotiyo nāma nāmena, cakkavattī mahabbalo.
Seventy-three aeons ago from this one, I was once a ruler of the earth, a wheel-turning monarch of great power, by the name of Jotiyo.
“Kể từ kiếp này, trong bảy mươi ba kiếp, tôi đã là một vị vua, tên là Jotiyo, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.”
27.
27.
27.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (như trên) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā mañjaripūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable elder Mañjaripūjaka spoke these verses.
Như thế, Đại đức Trưởng lão Mañjaripūjako đã nói những câu kệ này.
Mañjaripūjakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The seventh Apadāna of the Elder Mañjaripūjaka is finished.
Thánh tích về Trưởng lão Mañjaripūjaka là phần thứ bảy.