Bản dịch
THA -ap26 — Ký Sự về Trưởng Lão Pañcasīlasamādāniya
Pañcasīlasamādāniyattheraapadāna
BJT 948Khi ấy, tôi đã là người làm công ở thành phố Candavatī. Bị vướng bận trong việc quán xuyến công việc của người khác, tôi không đạt được sự xuất gia.
BJT 949(Tôi đã suy nghĩ rằng): “Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham, sân, si), vậy thì bằng phương pháp nào, ta có thể được thoát khỏi?
BJT 950Và ta là người làm công khốn khổ, vật xứng đáng để dâng cúng thì ta không có. Hay là ta nên thọ trì và làm toàn vẹn năm giới cấm?”
BJT 951Vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Anomadassī có tên là Nisabha. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã nhận lãnh năm điều học (về giới).
BJT 952Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đã gìn giữ năm giới cấm được toàn vẹn chừng ấy thời gian.
BJT 953Khi thời điểm của tử thần đã đến, chư Thiên an ủi tôi rằng: “Thưa ngài, có cỗ xe được thắng một ngàn (ngựa) dành cho ngài, nó đã đến rồi.”
BJT 954Khi tâm cuối cùng đang diễn tiến, tôi đã tưởng nhớ lại giới hạnh của tôi. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 955Và tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi lần. Tôi đã thọ hưởng sự an lạc của cõi trời, đã được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 956Tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 957Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mạng chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Vesālī.
BJT 958Vào thời điểm cận kề mùa mưa, trong lúc Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đang chói sáng, mẹ và luôn cả cha của tôi đã nhận lãnh năm điều học (về giới).
BJT 959Do việc đã lắng nghe, tôi đã mau chóng tưởng nhớ lại giới hạnh của mình. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 960Vào lúc năm tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật, bậc Hữu Nhãn, đã cho (tôi) tu lên bậc trên.
BJT 961Sau khi gìn giữ năm điều học (về giới) được toàn vẹn, trong vô lượng kiếp trước đây tôi đã không đi đến đọa xứ.
BJT 962Do nhờ tác động của các giới cấm ấy, tôi đây đã thọ hưởng danh vọng. Trong khi ngợi ca (về quả báu của giới) cho dầu đến một koṭi (mười triệu) kiếp, tôi cũng chỉ có thể ngợi ca được một phần nhỏ.
BJT 963Sau khi gìn giữ năm giới cấm, tôi đạt được ba chủng tử: Tôi là người có tuổi thọ, có của cải lớn lao, có tuệ sắc bén.
BJT 964Tôi chỉ đang ngợi ca phần phụ trội trong số toàn thể (quả báu) có liên hệ đến loài người. Sau khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đều đạt được các điều này.
BJT 965Vị Thinh Văn của đấng Chiến Thắng là người đang thực hành giới cấm vô số kể, nếu vị ấy vui thích trong các cõi tái sanh thì quả thành tựu sẽ như thế nào?
BJT 966Năm giới cấm đã được thực hành tốt đẹp bởi tôi là người làm công có sự quán sát. Nhờ vào giới hạnh ấy, ngày hôm nay tôi đã cởi bỏ mọi điều trói buộc.
BJT 967(Kể từ khi) tôi đã gìn giữ năm giới cấm trước đây vô lượng kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của năm giới cấm.
BJT 968Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pañcasīlasamādāniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pañcasīlasamādāniya là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Pañcasīlasamādāniyattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Pañcasīlasamādāniya
4. Thánh tích của Trưởng lão Pañcasīlasamādāniya
134.
134.
134.
‘‘Nagare candavatiyā, bhatako āsahaṃ tadā;
Parakammāyane yutto, pabbajjaṃ na labhāmahaṃ.
In the city of Candavatī, I was a hireling at that time. Engaged in the work of others, I did not obtain the going forth.
Tại thành Candavatī, khi ấy tôi là người làm thuê; Bận rộn với công việc của người khác, tôi không thể xuất gia.
135.
135.
135.
‘‘Mahandhakārapihitā, tividhaggīhi ḍayhare;
Kena nu kho upāyena, visaṃyutto bhave ahaṃ.
Covered by great darkness, beings are scorched by the threefold fires. By what means indeed could I be freed?
Chúng sanh bị bóng tối dày đặc che lấp, bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa; Bằng phương tiện nào, tôi có thể được giải thoát?
136.
136.
136.
‘‘Deyyadhammo ca me natthi, varāko bhatako ahaṃ;
Yaṃnūnāhaṃ pañcasīlaṃ, rakkheyyaṃ paripūrayaṃ.
I have no object to give; I am a wretched hireling. What if I were to guard the five precepts, fulfilling them completely?
Tôi không có vật gì để cúng dường, tôi là người làm thuê khốn khổ; Vậy thì, tôi sẽ gìn giữ năm giới cho được trọn vẹn.
137.
137.
137.
‘‘Anomadassissa munino, nisabho nāma sāvako;
Tamahaṃ upasaṅkamma, pañcasikkhāpadaggahiṃ.
There was a disciple of the Sage Anomadassī named Nisabha. Having approached him, I took up the five training precepts.
Có vị đệ tử của bậc ẩn sĩ Anomadassī, tên là Nisabha; Tôi đã đến gần vị ấy, và đã thọ nhận năm học giới.
138.
138.
138.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā pañcasīlāni, paripuṇṇāni gopayiṃ.
At that time, the lifespan was one hundred thousand years. For that long, I guarded the five precepts completely.
Khi ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm; Suốt thời gian đó, tôi đã gìn giữ năm giới một cách trọn vẹn.
139.
139.
139.
‘‘Maccukāle ca sampatte, devā assāsayanti maṃ;
‘Ratho sahassayutto te, mārisāyaṃ † upaṭṭhito’.
When the time of death arrived, the devas comforted me: ‘Friend, this chariot yoked with a thousand steeds stands ready for you.’
Và khi đến lúc lâm chung, chư Thiên đã an ủi tôi: ‘Này bạn, cỗ xe được thắng ngàn ngựa đang chờ đợi bạn’.
140.
140.
140.
‘‘Vattante carime citte, mama sīlaṃ anussariṃ;
Tena kammena sukatena, tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
As the final consciousness was occurring, I recollected my virtue. By that well-done kamma, I went to the Tāvatiṃsa realm.
Khi tâm cuối cùng sanh khởi, tôi đã nhớ lại giới của mình; Nhờ nghiệp lành đã làm đó, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
141.
141.
141.
‘‘Tiṃsakkhattuñca devindo, devarajjamakārayiṃ;
Dibbasukhaṃ † anubhaviṃ, accharāhi purakkhato.
Thirty times I was the king of devas, exercising sovereignty over them. Surrounded by celestial nymphs, I experienced divine bliss.
Ta đã ba mươi lần làm vua trời, đã trị vì vương quốc chư thiên; được các tiên nữ vây quanh, ta đã hưởng thụ an lạc cõi trời.
142.
142.
142.
‘‘Pañcasattatikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Seventy-five times I was a wheel-turning monarch. My sovereignty as a regional king over a vast area was uncountable by number.
Ta đã bảy mươi lăm lần làm vua Chuyển Luân; còn việc làm vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm xiết.
143.
143.
143.
‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Pure vesāliyaṃ jāto, mahāsāle suaḍḍhake.
Having passed away from the deva world, urged by a wholesome root-cause, I was born in the city of Vesālī, in a great and immensely wealthy family.
Sau khi mệnh chung từ cõi trời, được thúc đẩy bởi nhân trong sạch, ta đã sanh ra ở thành Vesālī, trong dòng dõi Mahāsāla rất giàu có.
144.
144.
144.
‘‘Vassūpanāyike kāle, dippante † jinasāsane;
Mātā ca me pitā ceva, pañcasikkhāpadaggahuṃ.
At the time of the rains-residence, while the Conqueror’s Dispensation was shining, my mother and father took up the five training precepts.
Vào thời điểm an cư mùa mưa, khi giáo pháp của bậc Chiến Thắng đang tỏa sáng, cả mẹ và cha của ta đã thọ trì năm học giới.
145.
145.
145.
‘‘Saha sutvānahaṃ sīlaṃ, mama sīlaṃ anussariṃ;
Ekāsane nisīditvā, arahattamapāpuṇiṃ.
As soon as I heard of the precepts, I recollected my own virtue. Sitting in a single session, I attained Arahantship.
Vừa khi nghe về giới, ta đã tùy niệm về giới của mình; và trong một lần ngồi, ta đã đạt đến quả A-la-hán.
146.
146.
146.
‘‘Jātiyā pañcavassena, arahattamapāpuṇiṃ;
Upasampādayi buddho, guṇamaññāya cakkhumā.
At five years of age, I attained Arahantship. The Buddha, the Seeing One, gave me the higher ordination, having understood my qualities.
Lúc năm tuổi đời, ta đã đạt đến quả A-la-hán; Đức Phật, bậc có Tuệ nhãn, biết được đức hạnh của ta nên đã cho ta xuất gia.
147.
147.
147.
‘‘Paripuṇṇāni gopetvā, pañcasikkhāpadānahaṃ;
Aparimeyye ito kappe, vinipātaṃ na gacchahaṃ.
Having guarded the five training precepts completely, for immeasurable eons from this one, I have not gone to a state of ruin.
Ta đã gìn giữ trọn vẹn năm học giới; trong vô số kiếp kể từ kiếp này, ta đã không đi đến đọa xứ.
148.
148.
148.
‘‘Svāhaṃ yasamanubhaviṃ, tesaṃ sīlāna vāhasā;
Kappakoṭimpi kittento, kittaye ekadesakaṃ.
I, that one, experienced glory through the power of those virtues. Even if one were to praise it for ten million eons, one could describe but a fraction.
Ta đó, nhờ năng lực của những giới ấy, đã hưởng thụ danh vọng; dù có kể suốt trăm triệu kiếp, người ta cũng chỉ có thể kể được một phần mà thôi.
149.
149.
149.
‘‘Pañcasīlāni gopetvā, tayo hetū labhāmahaṃ;
Dīghāyuko mahābhogo, tikkhapañño bhavāmahaṃ.
Having guarded the five precepts, I obtain three benefits: I become long-lived, of great wealth, and of sharp wisdom.
Nhờ gìn giữ năm giới, ta đã được ba điều: ta được sống lâu, có nhiều tài sản, và có trí tuệ sắc bén.
150.
150.
150.
‘‘Saṃkittento ca † sabbesaṃ, abhimattañca porisaṃ;
Bhavābhave saṃsaritvā, ete ṭhāne labhāmahaṃ.
Proclaiming to all this exceeding human effort, and having wandered through various states of existence, I obtain these states.
Ta đã tuyên dương năng lực phi thường của nam nhân cho tất cả mọi người; sau khi luân hồi trong các cõi, ta đã đạt được những trạng thái này.
151.
151.
151.
‘‘Aparimeyyasīlesu, vattantā jinasāvakā;
Bhavesu yadi rajjeyyuṃ, vipāko kīdiso bhave.
If the Conqueror’s disciples, abiding in immeasurable virtues, were to delight in existences, what would their result be like?
Các vị đệ tử của bậc Chiến Thắng, những người thực hành vô số giới, nếu có tham đắm trong các cõi, thì quả báo sẽ như thế nào?
152.
152.
152.
‘‘Suciṇṇaṃ me pañcasīlaṃ, bhatakena tapassinā †;
Tena sīlenahaṃ ajja, mocayiṃ sabbabandhanā.
The five precepts were well-practiced by me, a wretched hireling. By that virtue, today I am freed from all bonds.
Là một người làm thuê khốn khổ, ta đã thực hành tốt năm giới; nhờ giới đó, hôm nay ta đã được giải thoát khỏi mọi trói buộc.
153.
153.
153.
‘‘Aparimeyye ito kappe, pañcasīlāni gopayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pañcasīlānidaṃ phalaṃ.
In an immeasurable eon from this one, I guarded the five precepts. Since then, I have known no bad destination; this is the fruit of the five precepts.
Trong vô số kiếp kể từ kiếp này, ta đã gìn giữ năm giới; ta không biết đến cõi dữ. Đây là quả của năm giới.
154.
154.
154.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được ta chứng ngộ; giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pañcasīlasamādāniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Pañcasīlasamādāniya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pañcasīlasamādāniya đã nói những câu kệ này.
Pañcasīlasamādāniyattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Pañcasīlasamādāniya.
Thiên truyện về Trưởng lão Pañcasīlasamādāniya, thiên thứ tư.