Bản dịch
THA -ap25 — Ký Sự về Trưởng Lão Saraṇagamaniya
3 Tisaraṇagamaniyattheraapadāna
BJT 920Lúc bấy giờ, tôi đã là người hầu hạ mẹ ở thành phố Candavatī. Mẹ và cha của tôi bị mù, tôi phụng dưỡng họ.
BJT 921Khi ấy, tôi đã đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Trong khi phụng dưỡng mẹ và cha, ta không đạt được sự xuất gia.
BJT 922Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham, sân, si). Khi nỗi hãi sợ như thế ấy đã sanh khởi, không có người nào là bậc hướng đạo.
BJT 923Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng chiếu sáng. Với người có nghiệp phước thiện thì bản thân có thể tiếp độ được.
BJT 924Tôi đã học tập về ba sự nương nhờ và đã gìn giữ chúng được toàn vẹn. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi thoát khỏi khổ cảnh.
BJT 925Vị sa-môn tên Nisabha là vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã nhận lãnh sự đi đến nương nhờ (thọ trì Tam Quy).
BJT 926Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đã gìn giữ sự đi đến nương nhờ được toàn vẹn chừng ấy thời gian.
BJT 927Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đã tưởng nhớ lại sự nương nhờ ấy. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 928Khi đã đạt đến thế giới chư Thiên, được thành tựu về nghiệp phước thiện, bất cứ khu vực nào tôi đi đến tôi đều đạt được tám chủng tử:
BJT 929Tôi được tôn vinh ở mọi phương, tôi có tuệ sắc bén, tất cả chư Thiên đều phục tùng, tôi đạt được của cải vô lượng.
BJT 930Có màu da vàng chói, tôi đều được yêu mến ở mọi nơi, tôi trung thành đối với các bạn hữu tôi, danh vọng của tôi là cao tột.
BJT 931Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Tôi đã thọ hưởng sự an lạc của cõi trời, đã được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 932Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 933Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, được thành tựu về nghiệp phước thiện, tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.
BJT 934Được những đứa trẻ tháp tùng, tôi đã rời khỏi thành phố. Có được sự cười giỡn vui đùa, tôi đã đi đến tu viện dành cho Hội Chúng.
BJT 935Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị sa-môn đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh. Vị ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi và đã ban sự nương nhờ đến tôi.
BJT 936Sau khi lắng nghe về sự nương nhờ, tôi đây đã tưởng nhớ lại sự nương nhờ của tôi. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 937Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Nhận biết đức hạnh (của tôi), đấng Toàn Giác, bậc Hữu Nhãn, đã cho (tôi) tu lên bậc trên.
BJT 938Tôi đã đi đến các sự nương nhờ trước đây vô lượng kiếp. Do đó, nghiệp khéo được tôi thực hiện đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây.
BJT 939Sự nương nhờ của tôi đã được gìn giữ cẩn thận, tâm ý đã khéo được củng cố. Sau khi thọ hưởng mọi thứ danh vọng, tôi đã đạt đến vị thế Bất Động.
BJT 940Những vị nào có sự lắng nghe, xin các vị hãy lắng nghe tôi nói. Tôi sẽ giảng cho các vị về đạo lộ đã được tự thân nhìn thấy của mình.
BJT 941“Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng được hiện hữu. Tiếng trống Bất Tử đã được vỗ lên là sự xua đi các mũi tên sầu muộn.
BJT 942Bằng sức lực của mình, các vị có thể thực hiện hành động hướng thượng ở Phước Điền vô thượng, tương tợ như thế, (với năng lực của mình) các vị sẽ chạm đến Niết Bàn.
BJT 943Sau khi đã thọ nhận ba sự nương nhờ, sau khi đã gìn giữ năm giới cấm, sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín ở nơi đức Phật, các vị sẽ tiến hành việc chấm dứt khổ đau.
BJT 944Sau khi thực hành tương tợ như tôi, sau khi gìn giữ toàn vẹn các giới cấm, không bao lâu sau tất cả các vị cũng sẽ đạt được phẩm vị A-la-hán.”
BJT 945Có được ba minh, tôi đã đạt đến thần thông, và được rành rẽ về tâm của người khác. Bạch đấng Đại Hùng, vị Thinh Văn của Ngài xin đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.
BJT 946(Kể từ khi) tôi đã đi đến nương nhờ đức Phật trước đây vô lượng kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đi đến nương nhờ.
BJT 947Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tisaraṇagamaniya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tisaraṇagamaniya là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Tisaraṇagamaniyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Tisaraṇagamaniya
3. Phần truyện của Trưởng lão Tisaraṇagamaniya
106.
106.
106.
‘‘Nagare candavatiyā †, mātuupaṭṭhāko † ahuṃ;
Andhā mātā pitā mayhaṃ, te posemi ahaṃ tadā.
In the city of Candavatī, I was one who attended upon my mother; my mother and father were blind, and I supported them then.
‘Tại thành Candavatī, tôi đã là người phụng dưỡng mẹ. Cha mẹ của tôi bị mù, khi ấy tôi đã nuôi dưỡng các vị ấy.
107.
107.
107.
‘‘Rahogato nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
Posento mātāpitaro, pabbajjaṃ na labhāmahaṃ.
Having gone to a secluded place and sat down, I thought thus at that time: ‘While supporting my mother and father, I cannot obtain the going forth.’
‘Sau khi đi đến nơi vắng vẻ và ngồi xuống, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Trong khi nuôi dưỡng cha mẹ, tôi không thể có được sự xuất gia.
108.
108.
108.
‘‘Mahandhakārapihitā †, tividhaggīhi ḍayhare;
Etādise bhave † jāte, natthi koci vināyako.
Covered by great darkness, beings are burned by the three fires. When such an existence has arisen, there is no savior.
‘(Chúng sanh) bị che lấp bởi bóng tối vĩ đại, bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa. Khi sanh vào kiếp sống như thế này, không có ai là người dẫn dắt.
109.
109.
109.
‘‘Buddho loke samuppanno, dippati † † dāni sāsanaṃ;
Sakkā uddharituṃ attā, puññakāmena jantunā.
A Buddha has arisen in the world; now the Dispensation shines. It is possible for a being who desires merit to uplift oneself.
‘Đức Phật đã xuất hiện ở trên đời, giáo pháp hiện đang tỏa sáng. Chúng sanh mong cầu phước báu có thể tự mình cứu vớt mình.
110.
110.
110.
‘‘Uggayha tīṇi saraṇe, paripuṇṇāni gopayiṃ;
Tena kammena sukatena, paṭimokkhāmi duggatiṃ.
Having taken up the three refuges, I guarded them completely. By that well-done deed, I will be freed from a bad destination.
‘Sau khi thọ trì ba sự quy y, tôi đã gìn giữ một cách trọn vẹn. Do nghiệp thiện đã được thực hiện ấy, tôi sẽ được giải thoát khỏi khổ cảnh.
111.
111.
111.
‘‘Nisabho nāma samaṇo, buddhassa aggasāvako;
Tamahaṃ upagantvāna, saraṇagamanaṃ gahiṃ.
The ascetic named Nisabha was the Buddha’s chief disciple. Having approached him, I took the going for refuge.
‘Vị Sa-môn tên là Nisabha là vị Thượng thủ Thinh văn của đức Phật. Sau khi đi đến vị ấy, tôi đã thọ nhận sự quy y.
112.
112.
112.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā saraṇagamanaṃ, paripuṇṇaṃ agopayiṃ.
The lifespan then was one hundred thousand years; for that long, I completely guarded the going for refuge.
‘Khi ấy, tuổi thọ hiện hữu là một trăm ngàn năm. Trong suốt thời gian ấy, tôi đã gìn giữ sự quy y một cách trọn vẹn.
113.
113.
113.
‘‘Carime vattamānamhi, saraṇaṃ taṃ anussariṃ;
Tena kammena sukatena, tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
When my final moment was occurring, I recollected that refuge. By that well-done deed and my aspirations, I went to Tāvatiṃsa.
‘Khi tâm cuối cùng đang diễn tiến, tôi đã tưởng nhớ đến sự quy y ấy. Do nghiệp thiện đã được thực hiện ấy, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
114.
114.
114.
‘‘Devalokagato santo, puññakammasamāhito;
Yaṃ desaṃ † upapajjāmi †, aṭṭha hetū labhāmahaṃ.
Having gone to the deva world, endowed with meritorious kamma, whatever place I am reborn in, I obtain eight causes of benefit.
Khi sanh về cõi trời, do được đầy đủ phước nghiệp; Dầu sanh về nơi nào, tôi cũng được tám nhân duyên.
115.
115.
115.
‘‘Disāsu pūjito homi, tikkhapañño bhavāmahaṃ;
Sabbe devānuvattanti, amitabhogaṃ labhāmahaṃ.
I am honored in all directions; I become one of sharp wisdom. All the devas follow my will; I obtain immeasurable wealth.
Tôi được cúng dường ở các phương, tôi có trí tuệ sắc bén; Tất cả chư Thiên đều tùy thuận, tôi được tài sản vô lượng.
116.
116.
116.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo sabbattha, paṭikanto bhavāmahaṃ;
Mittānaṃ acalo homi, yaso abbhuggato mamaṃ.
Everywhere I am of golden complexion, I become pleasing to others. I am steadfast to friends; my fame has risen high.
Ở khắp mọi nơi, tôi có màu da vàng ròng, tôi trở nên khả ái; Đối với bạn bè, tôi không lay chuyển, danh tiếng của tôi vang xa.
117.
117.
117.
‘‘Asītikkhattu devindo, devarajjamakārayiṃ;
Dibbasukhaṃ anubhaviṃ, accharāhi purakkhato.
Eighty times I was the king of devas and exercised sovereignty over them. Surrounded by celestial nymphs, I experienced divine bliss.
Tám mươi lần làm vua trời, tôi đã trị vì vương quốc chư Thiên; Được các tiên nữ vây quanh, tôi đã hưởng thụ thiên lạc.
118.
118.
118.
‘‘Pañcasattatikkhattuñca, cakkavattī ahosahaṃ;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
And seventy-five times I was a wheel-turning monarch. The regional kingship was vast, innumerable by count.
Và bảy mươi lăm lần, tôi đã là vua Chuyển Luân; Còn làm vua chư hầu rộng lớn thì không thể đếm xiết.
119.
119.
119.
‘‘Pacchime bhave sampatte, puññakammasamāhito;
Pure sāvatthiyaṃ jāto, mahāsāle suaḍḍhake.
Having reached my final existence, endowed with meritorious kamma, I was born in the city of Sāvatthī, in a very wealthy family of great standing.
Khi đến kiếp cuối cùng, do đầy đủ phước nghiệp; Tôi sanh ra tại thành Sāvatthī, trong gia tộc Mahāsāla rất giàu có.
120.
120.
120.
‘‘Nagarā nikkhamitvāna, dārakehi purakkhato;
Hasakhiḍḍasamaṅgīhaṃ †, saṅghārāmaṃ upāgamiṃ.
Having gone out from the city, surrounded by boys, full of laughter and play, I approached the Saṅgha’s monastery.
Sau khi ra khỏi thành, được các đứa trẻ vây quanh; Tôi vui vẻ cười đùa, đi đến ngôi tịnh xá của Tăng-già.
121.
121.
121.
‘‘Tatthaddasāsiṃ † samaṇaṃ, vippamuttaṃ nirūpadhiṃ;
So me dhammamadesesi, saraṇañca adāsi me.
There I saw an ascetic, liberated and without substrate. He taught me the Dhamma and gave me the refuge.
Tại đó, tôi đã thấy vị Sa-môn, đã giải thoát, không còn sanh y; Vị ấy đã thuyết Pháp cho tôi, và đã ban cho tôi tam quy.
122.
122.
122.
‘‘Sohaṃ sutvāna saraṇaṃ, saraṇaṃ me anussariṃ;
Ekāsane nisīditvā, arahattamapāpuṇiṃ.
Having heard of the refuge, I recollected my own past refuge. Sitting in that one seat, I attained Arahantship.
Tôi ấy, sau khi nghe về quy y, đã nhớ lại sự quy y của mình; Ngồi trên một chỗ ngồi, tôi đã chứng đắc A-la-hán.
123.
123.
123.
‘‘Jātiyā sattame vasse, arahattamapāpuṇiṃ;
Upasampādayi buddho, guṇamaññāya cakkhumā.
In the seventh year from birth, I attained Arahantship. The Buddha, the one with vision, having known my virtue, gave me the higher ordination.
Vào năm thứ bảy từ khi sanh ra, tôi đã chứng đắc A-la-hán; Đức Phật, bậc có Mắt, biết được đức hạnh của tôi, đã cho tôi thọ cụ túc giới.
124.
124.
124.
‘‘Aparimeyye ito kappe, saraṇāni agacchahaṃ;
Tato me sukataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha.
An immeasurable aeon ago from this one, I went for the refuges. Because of that, my well-done kamma has shown its fruit to me here.
Vô lượng kiếp về trước, kể từ kiếp này, tôi đã quy y; Do đó, nghiệp lành tôi đã làm đã cho quả ở đây cho tôi.
125.
125.
125.
‘‘Sugopitaṃ me saraṇaṃ, mānasaṃ suppaṇīhitaṃ;
Anubhotvā yasaṃ sabbaṃ, pattomhi acalaṃ padaṃ.
My refuge was well-guarded, my mind was well-directed. Having experienced all glory, I have attained the unshakable state.
Sự quy y của tôi được khéo gìn giữ, tâm ý được khéo định hướng; Sau khi hưởng mọi danh vọng, tôi đã đạt đến trạng thái bất động.
126.
126.
126.
‘‘Yesaṃ sotāvadhānatthi, suṇotha mama bhāsato;
Ahaṃ † vo kathayissāmi, sāmaṃ diṭṭhaṃ padaṃ mama.
You who have attentive ears, listen to me as I speak. I will tell you of the state I myself have seen.
Những ai có sự chú tâm lắng nghe, hãy nghe lời tôi nói; Tôi sẽ nói cho các vị, về trạng thái mà chính tôi đã thấy.
127.
127.
127.
‘‘‘Buddho loke samuppanno, vattate jinasāsanaṃ;
Amatā vāditā bherī, sokasallavinodanā.
A Buddha has arisen in the world; the teaching of the Conqueror proceeds. The drum of the deathless, which removes the dart of sorrow, has been sounded.
Đức Phật đã sanh ra ở đời, giáo pháp của bậc Chiến Thắng đang hiện hữu; Trống bất tử đã được gióng lên, để nhổ đi mũi tên sầu muộn.
128.
128.
128.
‘‘‘Yathāsakena thāmena, puññakkhette anuttare;
Adhikāraṃ kareyyātha, passayissatha nibbutiṃ.
According to your own strength, in the unsurpassed field of merit, you should perform meritorious deeds; you will see Nibbāna.
Tùy theo sức của mình, trong ruộng phước vô thượng; Hãy tạo nên công đức, các vị sẽ thấy được sự tịch tịnh.
129.
129.
129.
‘‘‘Paggayha tīṇi saraṇe, pañcasīlāni gopiya;
Buddhe cittaṃ pasādetvā, dukkhassantaṃ karissatha.
Having taken up the three refuges and guarded the five precepts, having made your mind serene towards the Buddha, you will make an end of suffering.
Sau khi thọ trì ba pháp quy y, và gìn giữ năm giới; Với tâm tín thành nơi Đức Phật, các vị sẽ chấm dứt khổ đau.
130.
130.
130.
‘‘‘Sammā dhammaṃ bhāvetvāna †, sīlāni parigopiya;
Aciraṃ arahattaṃ vo, sabbepi pāpuṇissatha.
Having rightly developed the Dhamma and thoroughly guarded the precepts, all of you will soon attain Arahantship.
Sau khi tu tập chánh pháp, và hộ trì các giới luật; Chẳng bao lâu, tất cả các vị sẽ chứng đắc A-la-hán.
131.
131.
131.
‘‘‘Tevijjo iddhipattomhi, cetopariyakovido;
Sāvako te mahāvīra, saraṇo † vandati satthuno’.
I possess the three knowledges and have attained psychic power; I am skilled in knowing the minds of others. O Great Hero, your disciple, Saraṇa, pays homage to the Teacher.
Con là bậc Tam Minh, đã đạt thần thông, thông thạo về tha tâm thông; Đệ tử của Ngài, bậc Đại Hùng, tên là Saraṇa, xin đảnh lễ Bậc Đạo Sư.
132.
132.
132.
‘‘Aparimeyye ito kappe, saraṇaṃ buddhassa gacchahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, saraṇaṃ gamane phalaṃ.
In an immeasurable eon from this one, I went for refuge to the Buddha. I know of no bad destination; this is the fruit of going for refuge.
Vô lượng kiếp về trước, kể từ kiếp này, tôi đã quy y Phật; Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đó là quả của việc quy y.
133.
133.
133.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích, và tám giải thoát này; Sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tisaraṇagamaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable elder Tisaraṇagamaniya spoke these verses.
Như vậy, quả thật, Trưởng lão Tisaraṇagamaniya đáng kính đã nói những câu kệ này.
Tisaraṇagamaniyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Tisaraṇagamaniya.
Thánh tích của Trưởng lão Tisaraṇagamaniya, phần thứ ba.