Bản dịch
THA -ap24 — Ký Sự về Trưởng Lão Upavāna
2 Upavānattheraapadāna
BJT 865Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Sau khi phát cháy như là khối lửa, bậc Toàn Giác đã viên tịch Niết Bàn.
BJT 866Đám đông dân chúng đã cùng nhau đi đến và cúng dường đức Như Lai. Sau khi hoàn tất giàn hỏa thiêu khéo được thực hiện, họ đã nâng thi thể lên.
BJT 867Sau khi thực hiện phận sự đối với thi thể, họ đã tập trung xá-lợi ở tại nơi ấy. Tất cả bọn họ gồm chư Thiên và loài người đã xây dựng ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.
BJT 868Tầng thứ nhất làm bằng vàng, tầng thứ nhì làm bằng ngọc ma-ni, tầng thứ ba làm bằng bạc, tầng thứ tư làm bằng ngọc pha-lê.
BJT 869Tương tợ, viền mép của tầng thứ năm đã được làm bằng hồng ngọc, tầng thứ sáu làm bằng đá quý, phần bên trên làm bằng tất cả các loại châu báu.
BJT 870Phần bên dưới làm bằng ngọc ma-ni, bục nền làm bằng châu báu. Được làm toàn bộ bằng vàng, ngôi bảo tháp vươn lên chiều cao một do-tuần.
BJT 871Khi ấy, chư Thiên đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.
BJT 872Xá-lợi không có các mảnh rời rạc, (xá-lợi) thân thể được kết thành một khối. Chúng ta sẽ thực hiện lớp vỏ bọc ở ngôi bảo tháp dành cho đức Phật này.”
BJT 873Với bảy loại châu báu, chư Thiên đã làm tăng thêm một do-tuần nữa. Có chiều cao hai do-tuần, ngôi bảo tháp ấy xua đi bóng tối.
BJT 874Khi ấy, loài rồng đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người và luôn cả chư Thiên, bọn họ đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.
BJT 875Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”
BJT 876Sau khi đã tụ tập chung lại, loài rồng đã phủ lớp ngọc bích, ngọc sa-phia, và ngọc ma-ni như ý lên ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.
BJT 877Giờ đây, ngôi bảo điện dành cho đức Phật đã được làm bằng ngọc ma-ni toàn bộ, khi ấy có chiều cao ba do-tuần, là nguồn tạo ra ánh sáng.
BJT 878Khi ấy, các nhân điểu đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, và loài rồng, bọn họ đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.
BJT 879Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”
BJT 880Loài nhân điểu đã thực hiện ở ngôi bảo tháp lớp vỏ bọc phụ trội toàn bộ làm bằng ngọc ma-ni. Họ cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần.
BJT 881Với chiều cao bốn do-tuần, ngôi bảo tháp của đức Phật chiếu sáng và khiến cho tất cả các phương được rực rỡ tợ như mặt trời đã mọc lên.
BJT 882Khi ấy, các ác thần đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, luôn cả chư Thiên, loài rồng, và loài nhân điểu cũng tương tợ như thế.
BJT 883Bọn họ đã xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất dành cho đức Phật tối thượng một cách cá biệt. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng.
BJT 884Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại châu báu, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”
BJT 885Các ác thần cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao năm do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.
BJT 886887. Khi ấy, loài Dạ-xoa đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, loài rồng, loài nhân điểu, và các ác thần đã xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất dành cho đức Phật tối thượng một cách cá biệt. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng.
BJT 888Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại ngọc pha-lê, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”
BJT 889Loài Dạ-xoa cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao sáu do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.
BJT 890Lúc bấy giờ, các Càn-thát-bà đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, loài rồng, các ác thần, và loài nhân điểu cũng tương tợ như thế.
BJT 891Tất cả đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật. Trong việc này chúng ta là những người chưa làm gì. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”
BJT 892Sau khi đã làm thành bảy tầng, các Càn-thát-bà đã đặt lên chiếc lọng. Khi ấy, các Càn-thát-bà đã kiến tạo ngôi bảo tháp toàn bộ làm bằng vàng.
BJT 893Khi ấy, với chiều cao bảy do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ. Đêm và ngày không phân biệt được, (vì) ánh sáng luôn luôn hiện hữu.
BJT 894Mặt trăng, mặt trời, luôn cả các vì sao không hơn được ánh sáng của ngôi bảo tháp. Thậm chí ánh đèn cũng đã không được đốt lên ở xung quanh một trăm do-tuần.
BJT 895Vào thời điểm ấy, những người nào cúng dường ngôi bảo tháp, những người ấy không bước lên ngôi bảo tháp mà họ thảy lên ở không trung.
BJT 896Được chư Thiên chỉ định, con Dạ-xoa tên Abhisammata (có nhiệm vụ) máng lên cờ hiệu hoặc vòng hoa ở phía bên trên.
BJT 897Những người ấy không nhìn thấy con Dạ-xoa ấy mà nhìn thấy vòng hoa được nó mang đi. Sau khi nhìn thấy như thế rồi ra đi, tất cả những người ấy đi đến cõi tái sanh tốt đẹp.
BJT 898Những người không có niềm tin ở lời Phật dạy và những người được tịnh tín vào Giáo Pháp có ước muốn trông thấy phép kỳ diệu thì họ cúng dường đến ngôi bảo tháp.
BJT 899Khi ấy, tôi đã là người làm công ở thành phố Hamsavatī. Sau khi nhìn thấy dân chúng được vui mừng, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 900“Đối với vị có được gian nhà xá-lợi như vầy, vị ấy ắt hẳn là đức Thế Tôn cao thượng. Và đám dân chúng này đang thể hiện trạng thái hớn hở một cách nhiệt thành.
BJT 901Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính đến đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy, ta sẽ trở thành người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy trong tương lai.”
BJT 902Có tấm thượng y đã được khéo giặt sạch bởi người thợ giặt, tôi đã máng vào ngọn tre rồi đã nâng lá cờ hiệu lên ở không trung.
BJT 903Con Dạ-xoa Abhisammata đã cầm lấy lá cờ hiệu của tôi và đưa lên không trung. Sau khi nhìn thấy lá cờ hiệu phất phơ trong gió, tôi đã khởi lên niềm vui dào dạt.
BJT 904Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã đi đến gần vị Sa-môn. Sau khi đảnh lễ vị tỳ khưu ấy, tôi đã hỏi về quả thành tựu của lá cờ hiệu.
BJT 905Vị ấy đã giảng cho tôi về sự sanh khởi nỗi vui mừng và phỉ lạc của tôi: “Ngươi sẽ luôn luôn thọ hưởng quả thành tựu của lá cờ hiệu ấy.
BJT 906Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.
BJT 907Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên hộ tống ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.
BJT 908Có 86.000 nữ nhân đã được trang điểm, được điểm tô với các loại vải nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.
BJT 909Có lông mi cong, có nụ cười, vô cùng yểu điệu, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.
BJT 910Ngươi sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong 30.000 kiếp. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.
BJT 911Và ngươi sẽ là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng cách tính đếm.
BJT 912Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 913Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, được gắn liền với nghiệp phước thiện, ngươi sẽ là thân quyến của Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 914Sau khi từ bỏ 80 koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.
BJT 915Sau khi làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, ngươi sẽ là Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Upavāna.”
BJT 916Việc làm đã được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
BJT 917Trong khi tôi là đấng Chuyển Luân Vương chúa tể của bốn châu lục, các ngọn cờ luôn được kéo lên ở xung quanh (tôi) đến ba do-tuần.
BJT 918Từ khi tôi đã thực hiện việc làm trước đây 100.000 kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.
BJT 919Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Upavāna đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Upavāna là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Upavānattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Upavāna
2. Thiên A-ba-đà-na về Trưởng lão Upavāna
52.
52.
52.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Jalitvā aggikkhandhova, sambuddho parinibbuto.
The Conqueror named Padumuttara, who had gone to the far shore of all dhammas, like a great mass of fire that is extinguished after blazing, that Perfectly Enlightened One attained Parinibbāna.
“Bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp, sau khi cháy sáng như một khối lửa, Đức Chánh Đẳng Giác đã nhập Niết-bàn.”
53.
53.
53.
‘‘Mahājanā samāgamma, pūjayitvā tathāgataṃ;
Citaṃ katvāna sukataṃ, sarīraṃ abhiropayuṃ.
A great multitude of people, having come together and honored the Tathāgata, and having made a well-constructed pyre, placed the sacred body upon it.
“Đại chúng sau khi tụ tập, cúng dường Đức Như Lai, đã làm giàn hỏa thiêu tốt đẹp và đưa nhục thân lên.”
54.
54.
54.
‘‘Sarīrakiccaṃ katvāna, dhātuṃ tattha samānayuṃ;
Sadevamānusā sabbe, buddhathūpaṃ akaṃsu te.
Having performed the rites for the sacred body, they gathered the relic there. All humans together with devas built a stūpa for the Buddha.
“Sau khi làm các phận sự đối với nhục thân, họ đã thu gom xá-lợi tại nơi đó. Tất cả họ, cùng với chư thiên và nhân loại, đã xây dựng bảo tháp của Đức Phật.”
55.
55.
55.
‘‘Paṭhamā kañcanamayā, dutiyāsi maṇīmayā;
Tatiyā rūpiyamayā, catutthī phalikāmayā.
The first terrace was made of gold; the second was made of gems; the third was made of silver; the fourth was made of crystal.
“Tầng thứ nhất bằng vàng, tầng thứ hai bằng ngọc. Tầng thứ ba bằng bạc, tầng thứ tư bằng pha lê.”
56.
56.
56.
‘‘Tathā † pañcamiyā bhūmi †, lohitaṅgamayā ahu;
Chaṭṭhā masāragallassa, sabbaratanamayūpari.
Likewise, the fifth level was made of ruby; the sixth was of masāragalla gems, and the part above was made of all kinds of jewels.
“Tương tự, tầng thứ năm đã bằng hồng ngọc. Tầng thứ sáu bằng ngọc mã não, và ở trên cùng là bằng tất cả các loại bảo vật.”
57.
57.
57.
‘‘Jaṅghā maṇimayā āsi, vedikā ratanamayā;
Sabbasoṇṇamayo thūpo, uddhaṃ yojanamuggato.
The base was made of gems, and the railing was made of jewels. The stūpa, made entirely of gold, rose up to a height of one yojana.
Phần bệ đỡ được làm bằng ngọc, lan can làm bằng bảy báu; Bảo tháp hoàn toàn bằng vàng, cao vút lên một do-tuần.
58.
58.
58.
‘‘Devā tattha samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino.
Then the devas, having gathered there, consulted together: 'We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One.'
Khi ấy, chư thiên tụ hội tại nơi ấy, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī’.
59.
59.
59.
‘‘Dhātu āveṇikā natthi, sarīraṃ ekapiṇḍitaṃ;
Imamhi buddhathūpamhi, kassāma kañcukaṃ mayaṃ.
'There are no separate relics; the sacred body is a single mass. We shall make a casing for this Buddha-stūpa.'
‘Xá-lợi không có riêng biệt, thân xá-lợi là một khối duy nhất. Trên bảo tháp của đức Phật này, chúng ta sẽ làm một lớp vỏ bọc’.
60.
60.
60.
‘‘Devā sattahi ratnehi †, aññaṃ vaḍḍhesu yojanaṃ;
Thūpo dviyojanubbedho, timiraṃ byapahanti so.
The devas, with the seven kinds of jewels, increased it by another yojana. That stūpa, two yojanas in height, dispels the darkness.
Chư thiên đã dùng bảy báu để xây thêm một do-tuần nữa. Bảo tháp ấy cao hai do-tuần, xua tan đi bóng tối.
61.
61.
61.
‘‘Nāgā tattha samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
Manussā ceva devā ca, buddhathūpaṃ akaṃsu te.
Then the nāgas, having gathered there, consulted together: 'Both humans and devas have made a stūpa for the Buddha.'
Khi ấy, loài rồng tụ hội tại nơi ấy, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Loài người và cả chư thiên, họ đã xây dựng bảo tháp của đức Phật’.
62.
62.
62.
‘‘Mā no pamattā assumha †, appamattā sadevakā;
Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino.
'Let us not be heedless! Humans together with devas are heedful. We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One.'
‘Mong rằng chúng ta chớ có dễ duôi, loài người cùng với chư thiên đã không dễ duôi. Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī’.
63.
63.
63.
‘‘Indanīlaṃ mahānīlaṃ, atho jotirasaṃ maṇiṃ;
Ekato sannipātetvā, buddhathūpaṃ achādayuṃ.
Having gathered together the indanīla sapphire, the great sapphire, and also the jotirasa gem, they covered the Buddha-stūpa.
Họ đã gom chung lại ngọc indanīla, ngọc mahānīla, và cả ngọc jotirasa, rồi bao phủ lên bảo tháp của đức Phật.
64.
64.
64.
‘‘Sabbaṃ maṇimayaṃ āsi, tāvatā buddhacetiyaṃ;
Tiyojanasamubbiddhaṃ †, ālokakaraṇaṃ tadā.
That Buddha-cetiya was made entirely of gems; it was three yojanas high and became a source of light.
Tất cả đều được làm bằng ngọc, do đó tháp thờ đức Phật cao đến ba do-tuần. Khi ấy, tháp tạo ra ánh sáng.
65.
65.
65.
‘‘Garuḷā ca samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
Manussā devā nāgā ca, buddhathūpaṃ akaṃsu te.
Then the garuḷas also, having assembled, consulted together: 'Humans, devas, and nāgas—they have made a stūpa for the Buddha.'
Khi ấy, loài kim xí điểu cũng tụ hội, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Loài người, chư thiên, và loài rồng, họ đã xây dựng bảo tháp của đức Phật’.
66.
66.
66.
‘‘‘Mā no pamattā assumha, appamattā sadevakā;
Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino’.
'Let us not be heedless! Humans, nāgas, and devas are heedful. We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One.'
‘Mong rằng chúng ta chớ có dễ duôi, loài người cùng với chư thiên đã không dễ duôi. Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī’.
67.
67.
67.
‘‘Sabbaṃ maṇimayaṃ thūpaṃ, akaruṃ te ca kañcukaṃ †;
Yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ, āyataṃ buddhacetiyaṃ.
They too made a casing entirely of gems for the stūpa. They also increased the height of the Buddha-cetiya by one yojana.
Và họ đã làm lớp vỏ bọc cho bảo tháp, tất cả đều bằng ngọc. Họ cũng đã xây thêm một do-tuần cho tháp thờ đức Phật vốn đã cao.
68.
68.
68.
‘‘Catuyojanamubbiddho, buddhathūpo virocati;
Obhāseti disā sabbā, sataraṃsīva uggato.
The Buddha-stūpa, four yojanas high, shines brightly. Like the newly risen sun, it illuminates all directions.
Bảo tháp của đức Phật cao bốn do-tuần, tỏa sáng rực rỡ. Giống như mặt trời mọc, tháp chiếu sáng khắp mọi phương.
69.
69.
69.
‘‘Kumbhaṇḍā ca samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
Manussā ceva devā ca, nāgā ca garuḷā tathā.
Paccekaṃ buddhaseṭṭhassa, akaṃsu thūpamuttamaṃ.
Then the kumbhaṇḍas also, having assembled, consulted together: 'Humans and devas, and likewise nāgas and garuḷas, have each made a supreme stūpa for the Best of Buddhas.'
Khi ấy, loài cưu-bàn-trà cũng tụ hội, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Loài người và chư thiên, cũng như loài rồng và kim xí điểu, mỗi loài đã xây dựng bảo tháp tối thượng cho đức Phật bậc Tối Thắng’.
70.
70.
70.
‘‘‘Mā no pamattā assumha, appamattā sadevakā;
Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino;
Ratanehi chādessāma, āyataṃ buddhacetiyaṃ’.
'Let us not be heedless! Humans, nāgas, garuḷas, and devas are heedful. We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One. We shall cover the high Buddha-cetiya with jewels.'
‘Mong rằng chúng ta chớ có dễ duôi, loài người cùng với chư thiên đã không dễ duôi. Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī; chúng ta sẽ dùng các loại báu để bao phủ tháp thờ đức Phật vốn đã cao’.
71.
71.
71.
‘‘Yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ, āyataṃ buddhacetiyaṃ;
Pañcayojanamubbiddho, thūpo obhāsate tadā.
They also increased the high Buddha-cetiya by one yojana. Then the stūpa, five yojanas high, shone forth.
Họ cũng đã xây thêm một do-tuần cho tháp thờ đức Phật vốn đã cao. Khi ấy, bảo tháp cao năm do-tuần, tỏa sáng rực rỡ.
72.
72.
72.
‘‘Yakkhā tattha samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
Manussā devā nāgā ca, garuḷā kumbhaaṇḍakā.
Then the yakkhas, having gathered there, consulted together: 'Humans, devas, and nāgas, garuḷas and kumbhaṇḍas...'
Khi ấy, loài dạ-xoa tụ hội tại nơi ấy, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Loài người, chư thiên, loài rồng, loài kim xí điểu, và loài cưu-bàn-trà,
73.
73.
73.
‘‘Paccekaṃ buddhaseṭṭhassa, akaṃsu thūpamuttamaṃ;
‘Mā no pamattā assumha, appamattā sadevakā.
'...have each made a supreme stūpa for the Best of Buddhas. Let us not be heedless! Humans, nāgas, garuḷas, and kumbhaṇḍas, together with the devas, are heedful.'
mỗi loài đã xây dựng bảo tháp tối thượng cho đức Phật bậc Tối Thắng. Mong rằng chúng ta chớ có dễ duôi, loài người cùng với chư thiên đã không dễ duôi.
74.
74.
74.
‘‘‘Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino;
Phalikāhi chādessāma, āyataṃ buddhacetiyaṃ’.
'We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One. We shall cover the high Buddha-cetiya with crystal.'
Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī; chúng ta sẽ dùng pha lê để bao phủ tháp thờ đức Phật vốn đã cao’.
75.
75.
75.
‘‘Yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ, āyataṃ buddhacetiyaṃ;
Cha yojanāni ubbiddho, thūpo obhāsate tadā.
They also increased the high Buddha-cetiya by one yojana. Then the stūpa, six yojanas high, shone brightly.
Họ cũng đã xây thêm một do-tuần cho tháp thờ đức Phật vốn đã cao. Khi ấy, bảo tháp cao sáu do-tuần, tỏa sáng rực rỡ.
76.
76.
76.
‘‘Gandhabbā ca samāgantvā, ekato mantayuṃ tadā;
‘Manujā devatā nāgā, garuḷā kumbhayakkhakā.
Then the gandhabbas also, having assembled, consulted together: 'Humans, devas, nāgas, garuḷas, kumbhaṇḍas, and yakkhas...'
Khi ấy, loài càn-thát-bà cũng tụ hội, cùng nhau bàn bạc rằng: ‘Loài người, chư thiên, loài rồng, loài kim xí điểu, loài cưu-bàn-trà và dạ-xoa,
77.
77.
77.
‘‘‘Sabbekaṃsu buddhathūpaṃ, mayamettha akārakā;
Mayampi thūpaṃ kassāma, lokanāthassa tādino’.
'...all of them have made a stūpa for the Buddha, but we here have not. We too shall make a stūpa for the Lord of the World, the Such-like One.'
tất cả họ đã xây dựng bảo tháp của đức Phật, trong số này chúng ta là những người chưa làm. Chúng ta cũng sẽ xây dựng bảo tháp cho đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Tādī’.
78.
78.
78.
‘‘Vediyo satta katvāna, chattamāropayiṃsu te;
Sabbasoṇṇamayaṃ thūpaṃ, gandhabbā kārayuṃ tadā.
Having made seven railings, they raised up a parasol. Then the gandhabbas caused the stūpa to be made entirely of gold.
Sau khi làm bảy tầng lan can, họ đã dâng lên chiếc lọng báu. Khi ấy, loài càn-thát-bà đã khiến cho bảo tháp được làm hoàn toàn bằng vàng.
79.
79.
79.
‘‘Sattayojanamubbiddho, thūpo obhāsate tadā;
Rattindivā na ñāyanti, āloko hoti † sabbadā.
Then the stūpa, seven yojanas high, shone brightly. Night and day were not distinguished; there was always light.
Khi ấy, bảo tháp cao bảy do-tuần, tỏa sáng rực rỡ. Đêm và ngày không thể phân biệt, ánh sáng luôn luôn hiện hữu.
80.
80.
80.
‘‘Abhibhonti na tassābhā, candasūrā satārakā;
Samantā yojanasate, padīpopi na pajjali.
The radiance of the moon, sun, and stars cannot surpass its splendor. For a hundred yojanas all around, not even a lamp can shine.
Ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, cùng với các vì sao không thể lấn át được hào quang của tháp ấy. Trong vòng một trăm do-tuần xung quanh, ngay cả ngọn đèn cũng không thể cháy sáng.
81.
81.
81.
‘‘Tena kālena ye keci, thūpaṃ pūjenti mānusā;
Na te thūpamāruhanti, ambare ukkhipanti te.
At that time, whatever people worshipped the stūpa, they did not climb upon the stūpa; they tossed their offerings up into the sky.
Vào thời ấy, bất cứ người nào cúng dường bảo tháp, họ không trèo lên bảo tháp; họ tung vật cúng dường lên trên không trung.
82.
82.
82.
‘‘Devehi ṭhapito yakkho, abhisammatanāmako;
Dhajaṃ vā pupphadāmaṃ vā, abhiropeti uttari.
A yakkha named Abhisammata, appointed by the devas, would raise a banner or a flower garland up high upon it.
Vị dạ-xoa tên là Abhisammata, được chư thiên sắp đặt, đã đặt lá phan hoặc tràng hoa lên trên đỉnh tháp.
83.
83.
83.
‘‘Na te passanti taṃ yakkhaṃ, dāmaṃ passanti gacchato;
Evaṃ passitvā gacchantā, sabbe gacchanti suggatiṃ.
They do not see that yakkha; they see the garland moving. Having seen it thus, all who see it go to a happy destiny.
Họ không nhìn thấy vị dạ-xoa ấy, họ chỉ thấy tràng hoa đang di chuyển. Sau khi thấy như vậy, tất cả họ đều đi đến cõi lành.
84.
84.
84.
‘‘Viruddhā † ye pāvacane, pasannā ye ca sāsane;
Pāṭiheraṃ daṭṭhukāmā, thūpaṃ pūjenti mānusā.
Those who were opposed to the Teaching and those who had confidence in the Dispensation, all people, wishing to see a miracle, worshipped the stūpa.
Những người chống đối giáo pháp và những người có lòng tin trong giáo pháp, với mong muốn được thấy phép lạ, đều cúng dường bảo tháp.
85.
85.
85.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, ahosiṃ bhatako † tadā;
Āmoditaṃ janaṃ disvā, evaṃ cintesahaṃ tadā.
In the city of Haṃsavatī, I was a hired servant then. Seeing the joyful people, I thought thus at that time:
Khi ấy, ở trong thành Haṃsavatī, ta là một người làm thuê. Khi ấy, sau khi thấy dân chúng hoan hỷ, ta đã suy nghĩ như vầy:
86.
86.
86.
‘‘‘Uḷāro bhagavā heso, yassa dhātudharedisaṃ;
Imā ca janatā tuṭṭhā, kāraṃ kubbaṃ na tappare †.
'Truly, this Blessed One is magnificent, in whose relic-house there is such a miracle! And these people, delighted, performing meritorious deeds, are never satisfied.'
‘Vị Thế Tôn này thật là cao cả, tại tháp xá-lợi của ngài lại có sự việc như thế này. Và đám dân chúng này, với lòng hoan hỷ, trong khi làm việc cúng dường vẫn không biết thỏa mãn’.
87.
87.
87.
‘‘‘Ahampi kāraṃ kassāmi, lokanāthassa tādino;
Tassa dhammesu dāyādo, bhavissāmi anāgate’.
'I too shall perform a meritorious deed for the Protector of the World, the Such-like One. In the future, I shall become an heir to his Dhammas.'
‘Ta cũng sẽ làm việc công đức dâng lên đức Thế Tôn, bậc Tādin. Trong tương lai, ta sẽ là người thừa tự các Pháp của Ngài’.
88.
88.
88.
‘‘Sudhotaṃ rajakenāhaṃ, uttareyyapaṭaṃ mama;
Veḷagge ālagetvāna, dhajaṃ ukkhipimambare.
Having attached my upper garment, well-washed by a washerman, to the tip of a bamboo as a banner, I raised it into the sky.
‘Ta đã lấy tấm y vai của ta, được người thợ giặt giặt sạch sẽ, sau khi treo lên đầu ngọn tre làm thành lá cờ, ta đã tung nó lên không trung.
89.
89.
89.
‘‘Abhisammatako gayha, ambarehāsi me dhajaṃ;
Vāteritaṃ dhajaṃ disvā, bhiyyo hāsaṃ janesahaṃ.
A celestial general named Abhisammata, taking my banner, carried it in the sky. Seeing the banner stirred by the wind, I generated even greater joy.
‘Vị thiên tướng tên Abhisammata đã cầm lấy lá cờ của ta và mang đi trên không trung. Sau khi nhìn thấy lá cờ phất phơ trong gió, ta đã phát sanh niềm hoan hỷ càng nhiều hơn nữa.
90.
90.
90.
‘‘Tattha cittaṃ pasādetvā, samaṇaṃ upasaṅkamiṃ;
Taṃ bhikkhuṃ abhivādetvā, vipākaṃ pucchahaṃ dhaje.
Having filled my mind with serene confidence regarding that act, I approached an ascetic. Having paid homage to that monk, I asked about the karmic result of the banner.
‘Ở nơi ấy, sau khi làm cho tâm tịnh tín, ta đã đi đến một vị Sa-môn. Sau khi đảnh lễ vị Tỳ-khưu ấy, ta đã hỏi về quả báu của (việc cúng dường) lá cờ.
91.
91.
91.
‘‘So me kathesi ānanda, pītisañjananaṃ mama;
‘Tassa dhajassa vipākaṃ, anubhossasi sabbadā.
He spoke to me words that generated my joy and delight: ‘You will always experience the result of that banner.
‘Vị ấy đã nói với ta lời pháp làm phát sanh niềm hoan hỷ và vui mừng cho ta: ‘Ngươi sẽ luôn luôn hưởng thụ quả báu của (việc cúng dường) lá cờ ấy.
92.
92.
92.
‘‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā ca caturaṅginī;
Parivāressanti taṃ niccaṃ, dhajadānassidaṃ phalaṃ.
‘Elephants, horses, chariots, and infantry, a four-limbed army, will always surround you. This is the fruit of the banner-offering.
‘‘‘Binh chủng gồm voi, ngựa, xe, và bộ binh, là bốn binh chủng, sẽ luôn luôn vây quanh ngươi. Đây là quả báu của việc cúng dường lá cờ.
93.
93.
93.
‘‘‘Saṭṭhitūriyasahassāni, bheriyo samalaṅkatā;
Parivāressanti taṃ niccaṃ, dhajadānassidaṃ phalaṃ.
‘Sixty thousand musical instruments and well-adorned drums will always surround you. This is the fruit of the banner-offering.
‘‘‘Sáu mươi ngàn nhạc cụ và các trống lớn được trang hoàng đẹp đẽ sẽ luôn luôn vây quanh ngươi. Đây là quả báu của việc cúng dường lá cờ.
94.
94.
94.
‘‘‘Chaḷāsītisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vicittavatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā.
‘Eighty-six thousand women, well-adorned, with colorful garments and ornaments, wearing jeweled earrings,
‘‘‘Tám mươi sáu ngàn người nữ được trang hoàng đẹp đẽ, có y phục và trang sức sặc sỡ, đeo bông tai bằng ngọc.
95.
95.
95.
‘‘‘Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Parivāressanti taṃ niccaṃ, dhajadānassidaṃ phalaṃ.
'Women with long eyelashes, smiling, well-perceiving, and slender-waisted, will always surround you. This is the fruit of the banner-offering.'
Những người nữ có lông mi cong, hay mỉm cười, có nhận thức tốt và eo thon sẽ luôn luôn vây quanh ngươi. Đây là quả báu của việc cúng dường lá cờ.
96.
96.
96.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissasi;
Asītikkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissasi.
‘For thirty thousand aeons, you will delight in the deva world. Eighty times you will become the lord of devas and exercise sovereignty over them.
‘‘‘Trong ba mươi ngàn kiếp, ngươi sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Tám mươi lần làm vua trời, ngươi sẽ trị vì vương quốc của chư thiên.
97.
97.
97.
‘‘‘Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī bhavissasi;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘A thousand times you will be a wheel-turning king. Your regional kingship will be vast, innumerable by count.
‘‘‘Một ngàn lần, ngươi sẽ là vua Chuyển Luân. Còn việc làm vua chư hầu ở các xứ rộng lớn thì không thể đếm được về số lượng.
98.
98.
98.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, born in the Okkāka clan, the Teacher named Gotama by clan name will arise in the world.
‘‘‘Trong một trăm ngàn kiếp, bậc Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên Gotama theo dòng họ, sẽ xuất hiện ở trên đời.
99.
99.
99.
‘‘‘Devalokā cavitvāna, sukkamūlena codito;
Puññakammena saṃyutto, brahmabandhu bhavissasi.
‘Having passed away from the deva world, urged on by a wholesome root-cause and conjoined with meritorious kamma, you will be born as a brahmin.
‘‘‘Sau khi mệnh chung từ cõi trời, được thúc đẩy bởi căn lành trong sạch, kết hợp với nghiệp phước, ngươi sẽ sanh trong dòng dõi Bà-la-môn.
100.
100.
100.
‘‘‘Asītikoṭiṃ chaḍḍetvā, dāse kammakare bahū;
Gotamassa bhagavato, sāsane pabbajissasi.
‘Having given up eighty crores of wealth, and many slaves and workers, you will go forth in the Dispensation of the Blessed One, Gotama.
‘‘‘Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tài sản) và nhiều người hầu cùng người làm công, ngươi sẽ xuất gia trong giáo pháp của đức Thế Tôn Gotama.
101.
101.
101.
‘‘‘Ārādhayitvā sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Upavānoti nāmena, hessasi satthu sāvako’.
‘Having pleased the Perfectly Enlightened One, Gotama, the bull among the Sakyans, you will become a disciple of the Teacher by the name of Upavāna.’
‘‘‘Sau khi làm cho bậc Chánh Đẳng Giác Gotama, vị đứng đầu dòng Sakya, được hài lòng, ngươi sẽ là vị đệ tử của bậc Đạo Sư với tên là Upavāna’.
102.
102.
102.
‘‘Satasahasse kataṃ kammaṃ, phalaṃ dassesi me idha;
Sumutto saravegova kilese jhāpayī mama.
The deed performed one hundred thousand aeons ago has shown its fruit to me here. Like a well-released, swift arrow, it has burned up my defilements.
‘Nghiệp đã được thực hiện cách đây một trăm ngàn kiếp đã cho quả đối với tôi ở đây (trong kiếp này). Giống như tốc độ của mũi tên được bắn đi khéo léo, (nghiệp ấy) đã thiêu đốt các phiền não của tôi.
103.
103.
103.
‘‘Cakkavattissa santassa, catudīpissarassa me;
Tiyojanāni samantā, ussīsanti dhajā sadā.
For me, being a wheel-turning monarch, a ruler of the four continents, banners were always raised for three yojanas all around.
‘Khi là vua Chuyển Luân, bậc chúa tể của bốn châu, các lá cờ luôn luôn được dựng lên cho ta trong phạm vi ba do-tuần ở xung quanh.
104.
104.
104.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dhajadānassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, when I performed that deed, I have known no bad destination since then. This is the fruit of the banner-offering.
‘Vào kiếp cách đây một trăm ngàn, khi ấy ta đã thực hiện nghiệp nào, (kể từ đó) ta không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường lá cờ.
105.
105.
105.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized by me. The Buddha's Dispensation has been fulfilled.”
‘Bốn Tuệ Phân Tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā upavāno thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Upavāna spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Upavāna đã nói những câu kệ này.
Upavānattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Upavāna is concluded.
Phần truyện của Trưởng lão Upavāna, thứ hai.