Bản dịch
THA -ap23 — Ký Sự về Trưởng Lão Subhūti
Subhūtittheraapadāna
BJT 813Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Nisabha, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 814Khi ấy, là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột tên là Kosiya, tôi sống ở (ngọn núi) Nisabha, mỗi một mình không có người thứ hai.
BJT 815Khi ấy, tôi không thọ dụng trái cây, rễ cây, và lá cây (còn ở trên cây). Trong khi ấy, tôi sống nhờ các lá cây úa vàng đã rụng.
BJT 816Ngay cả trong khi đang buông bỏ mạng sống, tôi cũng không làm cho sự nuôi mạng bị hư hỏng. Tôi làm cho tâm của mình được hài lòng, tôi tránh xa sự tầm cầu sai trái (trong việc nuôi mạng).
BJT 817Mỗi khi tâm liên quan đến tham ái sanh khởi ở tôi, tôi tự mình quán sát. Khi được chăm chú, tôi đã thuần hóa tâm tham ái ấy rằng:
BJT 818“Ngươi bị ái luyến ở điều quyến rũ, bị sân hận ở điều gây khó chịu, và bị mê muội bởi điều làm cho mê mẩn, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng.
BJT 819Trú xứ này dành cho các đạo sĩ khổ hạnh đã được thanh tịnh, không còn nhơ nhuốc. Ngươi chớ làm hư hoại sự thanh tịnh, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng.
BJT 820(Nếu) trở thành người tại gia, ngươi sẽ luôn gánh chịu sự bị ràng buộc. Ngươi cũng chớ lầm lẫn về hai việc (xuất gia và tại gia), ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng.
BJT 821Giống như loại củi gỗ thiêu xác chết không phải là vật để dùng cho công việc ở bất cứ nơi nào khác, dầu ở làng mạc hay rừng thẳm, bởi vì nó không còn được xem là củi đốt nữa.
BJT 822Tợ như loại củi gỗ thiêu xác chết, ngươi không còn là người tại gia và cũng không phải là xuất gia. Hôm nay ngươi là người không còn thuộc về cả hai hạng, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng.
BJT 823Nếu điều này xảy ra cho ngươi, thì ai nhận biết điều này ở ngươi? Nếu ngươi từ bỏ phận sự về đức tin thì sẽ có nhiều sự biếng nhác ở ngươi.
BJT 824Các bậc tri thức sẽ ghét bỏ ngươi giống như người dân thành phố chán ghét sự ô nhiễm. Các bậc ẩn sĩ sẽ xua đuổi và luôn quở trách ngươi.
BJT 825Các bậc tri thức sẽ phê phán ngươi đã vi phạm lời giáo huấn. Ngay trong khi không đạt được sự cộng trú, làm sao ngươi có thể sinh sống?
BJT 826Con voi có sức mạnh đến gần và xua đuổi con voi là loài mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi ra khỏi bầy.
BJT 827Trong khi bị tách rời khỏi bầy, con voi không có được sự an ổn, thoải mái. Nó bị khổ sở, tâm rối loạn. Trong khi buồn bực, nó bị giao động.
BJT 828Tương tợ như thế ấy, các vị đạo sĩ tóc bện cũng sẽ xua đuổi ngươi là kẻ có tâm ý xấu xa. Trong khi bị tách rời khỏi các vị ấy, ngươi sẽ không đạt được sự an ổn, thoải mái.
BJT 829Bị xâm nhập bởi mũi tên sầu muộn, ngươi bị thiêu đốt vì sự bực bội dầu là ban ngày hoặc ban đêm, tợ như con voi bị tách rời khỏi bầy.
BJT 830Giống như vàng kim loại không bao giờ làm cho cái búa bị thiêu đốt ở bất cứ đâu, tương tợ như thế với sự lìa bỏ giới ngươi sẽ không làm cho (phiền não) được thiêu đốt ở bất cứ nơi nào.
BJT 831Dầu cho đang sống ở tại gia, ngươi sẽ sinh sống cách nào? Tài sản thuộc về người mẹ cũng như thuộc về người cha để dành lại cho ngươi là không có.
BJT 832Trong khi tự mình làm công việc khiến mồ hôi tuôn ra ở cơ thể, ngươi sẽ sinh sống ở tại gia như vậy. Tốt đẹp thay là điều ấy không được ngươi ưa thích.”
BJT 833Tại nơi ấy, tôi ngăn chặn tâm có khuynh hướng bị ô nhiễm theo cách như thế. Sau khi thực hiện lời giảng giải với nhiều pháp khác nhau, tôi đã ngăn chặn được các suy nghĩ xấu xa.
BJT 834Như thế, trong khi tôi đang an trú với sự an trú vào sự không xao lãng, ba mươi ngàn năm đã trôi qua khi tôi ở trong khu rừng.
BJT 835Sau khi nhìn thấy (tôi là) người tầm cầu mục đích tối thượng được thỏa thích với sự không xao lãng, bậc Toàn Giác Padumuttara đã đi đến gặp tôi.
BJT 836Là bậc vô lượng, không người tương đương, có hào quang màu (vàng chói) của trái cây timbarūsaka, không ai sánh bằng về dáng vóc, khi ấy đức Phật đã đi kinh hành ở không trung.
BJT 837Tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, tợ như tia chớp ở khoảng giữa đám mây trên bầu trời, đức Phật không ai sánh bằng về trí tuệ khi ấy đã đi kinh hành ở không trung.
BJT 838Tợ như con sư tử chúa không bị hãi sợ, tợ như con voi chúa kiêu hãnh, tợ như con cọp chúa chói sáng, (đức Phật) khi ấy đã đi kinh hành ở không trung.
BJT 839Có hào quang màu vàng chói của đồng tiền vàng, giống như than hồng của gỗ khadira, như là viên ngọc ma-ni như ý, (đức Phật) khi ấy đã đi kinh hành ở không trung.
BJT 840Với ánh sáng tinh khiết của ngọn núi Kelāsa, tợ như mặt trăng vào ngày rằm, tợ như mặt trời ở chính ngọ, (đức Phật) khi ấy đã đi kinh hành ở không trung.
BJT 841Sau khi nhìn thấy Ngài đang đi kinh hành ở không trung, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: “Phải chăng chúng sanh này là Thiên nhân, hay đây là loài người?
BJT 842Con người như thế này ở trên trái đất thì ta chưa từng được nghe hoặc được thấy. Cũng có lời chú thuật (về tướng mạo), người này sẽ là bậc đạo sư.”
BJT 843Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Khi ấy tôi đã gom lại nhiều loại bông hoa và vật thơm.
BJT 844Sau khi chuẩn bị chỗ ngồi bằng bông hoa, tôi đã nói với bậc có tâm ý tốt đẹp, làm thích ý, vị đứng đầu trong số các bậc Điều Phục Nhân lời nói này:
BJT 845“Bạch đấng Đại Hùng, chỗ ngồi này đã được con chuẩn bị là thích hợp đối với Ngài. Trong khi làm cho tâm của con được vui vẻ, xin Ngài hãy ngồi xuống ở chỗ ngồi bằng bông hoa.”
BJT 846Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở nơi ấy, tợ như con sư tử không bị hãi sợ. Đức Phật đã ngồi ở chỗ ngồi bằng bông hoa quý cao trong bảy ngày đêm.
BJT 847Trong khi lễ bái (Ngài), tôi đã đứng bảy ngày đêm. Bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian đã xuất khỏi thiền định.
BJT 848Trong khi tán dương việc làm của tôi, Ngài đã nói lời nói này: “Ngươi hãy tu tập sự niệm tưởng về đức Phật là (pháp) vô thượng trong các pháp tu tập.
BJT 849Sau khi tu tập về sự niệm tưởng này, ngươi sẽ được tròn đủ tâm ý và sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp.
BJT 850Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Ngươi sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở trong quốc độ một ngàn lần.
BJT 851Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ thọ hưởng mọi thứ ấy; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.
BJT 852Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, ngươi sẽ đạt được tài sản lớn lao, sẽ không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.
BJT 853Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 854Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.
BJT 855Sau khi làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, ngươi sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư với tên gọi là Subhūti.
BJT 856Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, (đức Phật ấy) sẽ thiết lập ngươi vào vị thế tối thắng về hai phương diện là có đức hạnh đáng được cúng dường và tương tợ như thế về việc an trú vào sự không say đắm.”
BJT 857Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác tên Padumuttara, bậc Trí Tuệ đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 858Được chỉ dạy bởi đấng Bảo Hộ Thế Gian, tôi đã lễ bái đức Như Lai. Được hoan hỷ, tôi luôn luôn tu tập sự niệm tưởng về đức Phật, là pháp tối thượng.
BJT 859Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 860Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
BJT 861Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng sự thành tựu tốt đẹp; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.
BJT 862Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được tài sản lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.
BJT 863Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.
BJT 864Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Subhūti đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Subhūti là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Subhūtittheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Subhūti
1. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Subhūti
1.
1.
1.
‘‘Himavantassāvidūre, nisabho nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṃ, paṇṇasālā sumāpitā.
Not far from the Himālaya, there is a mountain named Nisabha. My hermitage was well-made there, my leaf-hut well-constructed.
Không xa dãy Himavanta, có ngọn núi tên là Nisabha. Am thất của tôi đã được làm tốt đẹp ở nơi ấy, cốc lợp bằng lá đã được tạo dựng khéo léo.
2.
2.
2.
‘‘Kosiyo nāma nāmena, jaṭilo uggatāpano;
Ekākiyo † adutiyo, vasāmi nisabhe tadā.
By the name of Kosiya, a matted-hair ascetic fervent in austerity, I lived on Nisabha at that time, alone and without a companion.
Với danh xưng là Kosiyo, vị ẩn sĩ khổ hạnh mãnh liệt, một mình, không có người bạn đồng hành, khi ấy tôi đã trú ở núi Nisabha.
3.
3.
3.
‘‘Phalaṃ mūlañca paṇṇañca, na bhuñjāmi ahaṃ tadā;
Pavattaṃva supātāhaṃ †, upajīvāmi tāvade.
At that time, I did not eat fruit, roots, or leaves; I subsisted only on what was naturally available and had fallen on its own.
Khi ấy, tôi không ăn trái cây, rễ cây, và lá cây. Tôi chỉ sống bằng những thứ tự nhiên có sẵn, những trái cây đã rụng xuống.
4.
4.
4.
‘‘Nāhaṃ kopemi ājīvaṃ, cajamānopi jīvitaṃ;
Ārādhemi sakaṃ cittaṃ, vivajjemi anesanaṃ.
I did not corrupt my livelihood, even while giving up my life; I pleased my own mind and avoided improper seeking.
Tôi không làm tổn hại đến giới thanh tịnh mạng, dẫu cho phải từ bỏ mạng sống. Tôi làm cho tâm mình được hoan hỷ, tôi tránh xa việc tìm kiếm không đúng đắn.
5.
5.
5.
‘‘Rāgūpasaṃhitaṃ cittaṃ, yadā uppajjate mama;
Sayaṃva paccavekkhāmi, ekaggo taṃ damemahaṃ.
When a mind connected with lust arose in me, I myself reflected upon it; being single-minded, I subdued it.
Khi tâm liên quan đến tham ái sanh khởi nơi tôi, chính tôi đã tự mình quán xét. Với tâm chuyên nhất, tôi đã chế ngự tâm ấy.
6.
6.
6.
‘‘‘Rajjase rajjanīye ca, dussanīye ca dussase;
Muyhase mohanīye ca, nikkhamassu vanā tuvaṃ.
‘If you feel lust for what is lustful, feel anger for what is angering, and feel delusion for what is deluding, then you must depart from this forest.’
‘Nếu ngươi tham đắm trong đối tượng đáng tham đắm, sân hận trong đối tượng đáng sân hận, si mê trong đối tượng đáng si mê, thì ngươi hãy đi ra khỏi khu rừng này.’
7.
7.
7.
‘‘‘Visuddhānaṃ ayaṃ vāso, nimmalānaṃ tapassinaṃ;
Mā kho visuddhaṃ dūsesi, nikkhamassu vanā tuvaṃ.
‘This is the dwelling of the pure, of stainless ascetics. Do not corrupt one who is pure. You must depart from this forest.’
‘Đây là nơi ở của những bậc thanh tịnh, của những vị tu sĩ không tỳ vết. Ngươi chớ làm ô uế bậc thanh tịnh, ngươi hãy đi ra khỏi khu rừng này.’
8.
8.
8.
‘‘‘Agāriko bhavitvāna, yadā puttaṃ †, labhissasi;
Ubhopi mā virādhesi, nikkhamassu vanā tuvaṃ.
‘Having become a householder, when you get a son, do not fail in both respects. You must depart from this forest.’
‘Sau khi trở thành người tại gia, khi ngươi có được con cái, chớ nên làm hỏng cả hai (lợi ích). Ngươi hãy đi ra khỏi khu rừng này.’
9.
9.
9.
‘‘‘Chavālātaṃ yathā kaṭṭhaṃ, na kvaci kiccakārakaṃ;
Neva gāme araññe vā, na hi taṃ kaṭṭhasammataṃ.
‘Just as a charred log from a pyre is of no use anywhere, neither in the village nor in the forest, for it is not considered to be wood.’
‘Giống như khúc gỗ từ giàn thiêu, không có tác dụng gì ở bất cứ đâu. Chẳng phải ở làng, cũng chẳng phải ở rừng, nó thật sự không được xem là củi.’
10.
10.
10.
‘‘‘Chavālātūpamo tvaṃsi, na gihī nāpi saññato;
Ubhato muttako ajja, nikkhamassu vanā tuvaṃ.
‘You are like a charred log from a pyre: neither a householder nor a restrained one. Today you are bereft of both. You must depart from this forest.’
‘Ngươi giống như khúc gỗ từ giàn thiêu, không phải là người tại gia, cũng không phải là người có thu thúc. Hôm nay, ngươi đã đánh mất cả hai, ngươi hãy đi ra khỏi khu rừng này.’
11.
11.
11.
‘‘‘Siyā nu kho tava etaṃ, ko pajānāti te idaṃ;
Saddhādhuraṃ vahisi † me, kosajjabahulāya ca.
‘Perhaps this thought might arise in you: “Who knows of this deed of mine? Though I am very lazy, my faith will bear the burden.”’
‘Phải chăng ý nghĩ này có thể khởi lên nơi ngươi: “Ai biết được việc này của ta? Dù ta có nhiều lười biếng, tín tâm của ta sẽ gánh vác trách nhiệm.”’
12.
12.
12.
‘‘‘Jigucchissanti taṃ viññū, asuciṃ nāgariko yathā;
Ākaḍḍhitvāna isayo, codayissanti taṃ sadā.
‘The wise will be disgusted with you, just as a city-dweller is disgusted by filth. The seers will drag you out and constantly reprove you.’
‘Những người hiền trí sẽ ghê tởm ngươi, như người thành thị ghê tởm vật ô uế. Các vị ẩn sĩ sẽ lôi ngươi ra và luôn luôn khiển trách ngươi.’
13.
13.
13.
‘‘‘Taṃ viññū pavadissanti, samatikkantasāsanaṃ;
Saṃvāsaṃ alabhanto hi, kathaṃ jīvihisi † tuvaṃ.
‘The wise will censure you as one who has transgressed the teaching. Unable to find companionship with good ascetics, how then will you live?’
‘Những người hiền trí sẽ khiển trách ngươi, kẻ đã vi phạm lời giáo huấn. Không được chung sống (với các ẩn sĩ tốt), làm sao ngươi có thể sinh sống được?’
14.
14.
14.
‘‘‘Tidhāpabhinnaṃ mātaṅgaṃ, kuñjaraṃ saṭṭhihāyanaṃ;
Balī nāgo upagantvā, yūthā nīharate gajaṃ.
‘A powerful bull elephant, approaching a sixty-year-old elephant in must, with ichor flowing from three places, expels it from the herd.’
‘Con voi đực đầu đàn mạnh mẽ, sau khi đến gần con voi chúa sáu mươi tuổi, đang trong thời kỳ động dục tiết dịch ở ba nơi, đã đuổi nó ra khỏi bầy.’
15.
15.
15.
‘‘‘Yūthā vinissaṭo santo, sukhaṃ sātaṃ na vindati;
Dukkhito vimano hoti, pajjhāyanto pavedhati.
‘Having been expelled from the herd, it finds no pleasure or happiness. It becomes afflicted and dejected, brooding and trembling.’
‘Bị đuổi ra khỏi bầy, nó không tìm thấy sự vui thích và hạnh phúc. Nó trở nên đau khổ, buồn rầu, trầm tư và run rẩy.’
16.
16.
16.
‘‘‘Tatheva jaṭilā tampi, nīharissanti dummatiṃ;
Tehi tvaṃ nissaṭo santo, sukhaṃ sātaṃ na lacchasi.
‘In the very same way, the matted-hair ascetics will expel you, foolish one. Having been cast out by them, you will not find pleasure or happiness.’
‘Cũng thế, các vị ẩn sĩ sẽ đuổi ngươi, kẻ ngu si, ra khỏi đây. Bị họ đuổi đi, ngươi sẽ không có được sự vui thích và hạnh phúc.’
17.
17.
17.
‘‘‘Divā vā yadi vā rattiṃ, sokasallasamappito;
Ḍayhasi pariḷāhena, gajo yūthāva nissaṭo.
‘By day or by night, pierced by the dart of sorrow, you will burn with torment, like an elephant expelled from its herd.’
‘Dù ngày hay đêm, bị mũi tên sầu muộn xuyên thấu, ngươi sẽ bị thiêu đốt bởi sự phiền não, giống như con voi bị đuổi ra khỏi bầy.’
18.
18.
18.
‘‘‘Jātarūpaṃ yathā kūṭaṃ, neva jhāyati † katthaci;
Tathā sīlavihīno tvaṃ, na jhāyissasi † katthaci.
‘Just as counterfeit gold does not shine anywhere, so too, you who are devoid of virtue will not shine anywhere.’
‘Giống như vàng giả không sáng chói ở bất cứ đâu, cũng vậy, ngươi, người không có giới hạnh, sẽ không tỏa sáng ở bất cứ đâu.’
19.
19.
19.
‘‘‘Agāraṃ vasamānopi, kathaṃ jīvihisi tuvaṃ;
Mattikaṃ pettikañcāpi, natthi te nihitaṃ dhanaṃ.
‘Even while living in a home, how will you sustain yourself? You have no stored wealth, nor any inherited from your mother or father.’
‘Dù sống trong nhà, làm sao ngươi có thể sinh sống được? Ngươi không có tài sản cất giữ nào từ bên mẹ hay bên cha.’
20.
20.
20.
‘‘‘Sayaṃ kammaṃ karitvāna, gatte sedaṃ pamocayaṃ;
Evaṃ jīvihisi gehe, sādhu te taṃ na ruccati.
‘Having done the work yourself, causing sweat to pour from your body, thus you would live at home. But surely, that is not pleasing to you.’
‘Tự mình làm việc, để mồ hôi tuôn chảy trên thân thể, ngươi sẽ sống như vậy trong nhà. Chắc chắn rằng điều đó không làm ngươi hài lòng.’
21.
21.
21.
‘‘‘Evāhaṃ tattha vāremi, saṃkilesagataṃ manaṃ;
Nānādhammakathaṃ katvā, pāpā cittaṃ nivārayiṃ’.
‘Thus, in that place, I restrained my mind when it went towards defilement. By giving various discourses on the Dhamma, I prevented my mind from evil.’
‘Như vậy, ở nơi ấy, tôi đã ngăn chặn tâm đi đến phiền não. Sau khi thực hành các pháp thoại khác nhau, tôi đã ngăn tâm khỏi điều ác.’
22.
22.
22.
‘‘Evaṃ me viharantassa, appamādavihārino;
Tiṃsavassasahassāni, vipine me atikkamuṃ.
While I was dwelling thus, abiding in diligence, thirty thousand years passed for me in the forest.
Trong khi tôi sống như vậy, trú trong sự không dể duôi, ba mươi ngàn năm đã trôi qua đối với tôi ở trong rừng.
23.
23.
23.
‘‘Appamādarataṃ disvā, uttamatthaṃ gavesakaṃ;
Padumuttarasambuddho, āgacchi mama santikaṃ.
Seeing me delighting in diligence and seeking the highest goal, the Perfectly Enlightened One, Padumuttara, came into my presence.
Thấy tôi đang hoan hỷ trong sự không dể duôi, đang tìm cầu mục đích tối thượng, đức Phật Toàn Giác Padumuttara đã đến nơi tôi.
24.
24.
24.
‘‘Timbarūsakavaṇṇābho, appameyyo anūpamo;
Rūpenāsadiso buddho, ākāse caṅkamī tadā.
With a complexion like the Timbarūsaka fruit, immeasurable, incomparable, unequalled in form, the Buddha at that time walked in the sky.
Với màu da giống như trái Timbarūsaka, không thể đo lường, không thể so sánh, vô song về hình sắc, khi ấy đức Phật đã kinh hành trên hư không.
25.
25.
25.
‘‘Suphullo sālarājāva, vijjūvabbhaghanantare;
Ñāṇenāsadiso buddho, ākāse caṅkamī tadā.
Like a fully blossomed king of Sāla trees, like lightning amidst a dense mass of clouds, the Buddha, unequalled in knowledge, at that time walked in the sky.
Giống như cây sala chúa đang nở rộ, giống như tia chớp giữa đám mây dày đặc, đức Phật, bậc vô song về trí tuệ, khi ấy đã kinh hành trên hư không.
26.
26.
26.
‘‘Sīharājā vasambhīto †,
Like a fearless king of lions,
Giống như vua sư tử không sợ hãi,
Gajarājāva dappito †.
Like a well-tamed king of elephants,
Giống như vua voi oai vệ,
Lāsito † byaggharājāva, ākāse caṅkamī tadā.
Like a graceful king of tigers, he walked in the sky at that time.
Giống như vua cọp uyển chuyển, khi ấy Ngài đã kinh hành trên hư không.
27.
27.
27.
‘‘Siṅgīnikkhasavaṇṇābho, khadiraṅgārasannibho;
Maṇi yathā jotiraso, ākāse caṅkamī tadā.
With a complexion like Siṅgī gold, resembling a khadira charcoal fire, like a Jotirasa gem, He at that time walked back and forth in the sky.
Với màu da giống như vàng Siṅgī, giống như than hồng của cây Khadira, giống như ngọc Jotirasa, khi ấy Ngài đã kinh hành trên hư không.
28.
28.
28.
‘‘Visuddhakelāsanibho, puṇṇamāyeva candimā;
Majjhanhikeva † sūriyo, ākāse caṅkamī tadā.
Resembling a pure silver mountain, like the moon on a full moon day, like the sun at midday, the Blessed One at that time walked back and forth in the sky.
Giống như núi Kelāsa thanh tịnh, giống như mặt trăng vào ngày rằm, giống như mặt trời vào giữa trưa, khi ấy Ngài đã kinh hành trên hư không.
29.
29.
29.
‘‘Disvā nabhe caṅkamantaṃ, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘Devo nu kho ayaṃ satto, udāhu manujo ayaṃ.
Having seen him walking back and forth in the sky, I then thought thus: ‘Is this being a deva, or is this a human?’
Khi ấy, sau khi thấy Ngài đang kinh hành trên bầu trời, tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Chúng sanh này là một vị trời, hay là một con người?’
30.
30.
30.
‘‘‘Na me suto vā diṭṭho vā, mahiyā ediso naro;
Api mantapadaṃ atthi, ayaṃ satthā bhavissati’.
‘By me, such a person has neither been heard of nor seen on the earth. Indeed, there is a mantra-verse: “This one will be the Teacher.”’
“‘Trên mặt đất này, tôi chưa từng nghe, cũng chưa từng thấy một người nào như thế này; quả thật, có câu chú (trong kinh Vệ-đà) rằng: ‘Vị này sẽ là bậc Đạo Sư’.”
31.
31.
31.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Nānāpupphañca gandhañca, sannipātesahaṃ † tadā.
Having thought thus, I gladdened my own mind; I then gathered together various flowers and various fragrances.
“Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm mình được trong sạch. Khi ấy, tôi đã thu gom các loại hoa và các loại hương khác nhau.”
32.
32.
32.
‘‘Pupphāsanaṃ paññapetvā, sādhucittaṃ manoramaṃ;
Narasārathinaṃ aggaṃ, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having prepared a flower-seat, well-adorned and delightful to the heart, to the supreme Tamer of Men, I spoke these words:
“Sau khi sắp đặt tòa ngồi bằng hoa được trang trí đẹp đẽ, làm vui thích tâm ý, tôi đã nói lời này với bậc Tối Thượng trong các bậc Điều Ngự Trượng Phu.”
33.
33.
33.
‘‘‘Idaṃ me āsanaṃ vīra, paññattaṃ tavanucchavaṃ;
Hāsayanto mamaṃ cittaṃ, nisīda kusumāsane’.
‘O Hero, this seat, suitable for you, has been prepared by me. Gladdening my mind, please sit upon this flower-seat.’
“‘Thưa bậc Đại Hùng, tòa ngồi này xứng đáng với Ngài đã được con sắp đặt. Xin hãy làm cho tâm con hoan hỷ mà ngự trên tòa ngồi bằng hoa này’.”
34.
34.
34.
‘‘Nisīdi tattha bhagavā, asambhītova † kesarī;
Sattarattindivaṃ buddho, pavare kusumāsane.
The Blessed One, the Buddha, sat there on that excellent flower-seat for seven nights and seven days, unfrightened like a maned lion.
“Đức Thế Tôn, Đức Phật, đã ngự trên tòa ngồi bằng hoa cao quý ấy suốt bảy ngày bảy đêm, như con sư tử không hề sợ hãi.”
35.
35.
35.
‘‘Namassamāno aṭṭhāsiṃ, sattarattindivaṃ ahaṃ;
Vuṭṭhahitvā samādhimhā, satthā loke anuttaro;
Mama kammaṃ pakittento, idaṃ vacanamabravi.
I stood paying homage for seven nights and seven days. Having arisen from the attainment of cessation, the Teacher, unsurpassed in the world, proclaiming my deed, spoke these words:
“Tôi đã đứng đảnh lễ suốt bảy ngày bảy đêm. Sau khi xuất khỏi định, bậc Đạo Sư, bậc Vô Thượng trong thế gian, trong khi tán thán nghiệp của tôi, đã nói lời này:”
36.
36.
36.
‘‘‘Bhāvehi buddhānussatiṃ, bhāvanānamanuttaraṃ;
Imaṃ satiṃ bhāvayitvā, pūrayissasi mānasaṃ.
‘Develop the recollection of the Buddha, which is unsurpassed among meditations. Having developed this recollection, you will fulfill the aspiration of your heart.’
“‘Hãy tu tập niệm Phật, pháp tu vô thượng trong các pháp tu. Sau khi tu tập niệm này, ngươi sẽ làm cho tâm ý được viên mãn.”
37.
37.
37.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissasi;
Asītikkhattuṃ devindo, devarajjaṃ karissasi;
Sahassakkhattuṃ cakkavattī, rājā raṭṭhe bhavissasi.
‘For thirty thousand kappas, you will delight in the deva world. Eighty times, having become the king of the devas, you will exercise sovereignty. A thousand times, you will be a wheel-turning king in the land.’
“‘Suốt ba mươi ngàn kiếp, ngươi sẽ hưởng lạc trong cõi trời. Tám mươi lần làm vua trời, ngươi sẽ trị vì vương vị cõi trời. Một ngàn lần, ngươi sẽ là vua Chuyển Luân trong quốc độ.”
38.
38.
38.
‘‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Anubhossasi taṃ sabbaṃ, buddhānussatiyā phalaṃ.
‘Vast regional kingship, incalculable by number; you shall experience all that. This is the fruit of the recollection of the Buddha.’
“‘Vương vị tiểu quốc rộng lớn không thể đếm được về số lượng. Ngươi sẽ hưởng tất cả những điều đó. Đây là quả của niệm Phật.”
39.
39.
39.
‘‘‘Bhavābhave saṃsaranto, mahābhogaṃ labhissasi;
Bhoge te ūnatā natthi, buddhānussatiyā phalaṃ.
‘Wandering in existences great and small, you will obtain great wealth. There will be no deficiency in your wealth. This is the fruit of the recollection of the Buddha.’
“‘Trong khi luân hồi trong các kiếp lớn nhỏ, ngươi sẽ nhận được tài sản lớn. Về tài sản, ngươi sẽ không có sự thiếu hụt. Đây là quả của niệm Phật.”
40.
40.
40.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘In one hundred thousand kappas from now, one born in the Okkāka clan, named Gotama by clan name, will arise in the world as the Teacher.’
“‘Trong một trăm ngàn kiếp nữa, bậc Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, mang họ Gotama, sẽ xuất hiện trong thế gian.”
41.
41.
41.
‘‘‘Asītikoṭiṃ chaḍḍetvā, dāse kammakare bahū;
Gotamassa bhagavato, sāsane pabbajissasi.
‘Having abandoned eighty crores of wealth, and many slaves and workers, you will go forth in the Dispensation of the Blessed One, Gotama.’
“‘Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi tài sản, cùng nhiều người hầu và người làm công, ngươi sẽ xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn Gotama.”
42.
42.
42.
‘‘‘Ārādhayitvā sambuddhaṃ, gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ;
Subhūti nāma nāmena, hessati satthu sāvako.
‘Having pleased the Sammāsambuddha, Gotama, the bull among the Sakyans, he will be a disciple of the Teacher, by the name of Subhūti.’
“‘Sau khi làm cho Đức Chánh Đẳng Giác Gotama, bậc đứng đầu dòng Sakya, hài lòng, ngươi sẽ là đệ tử của bậc Đạo Sư với tên là Subhūti.”
43.
43.
43.
‘‘‘Bhikkhusaṅghe nisīditvā, dakkhiṇeyyaguṇamhi taṃ;
Tathāraṇavihāre ca, dvīsu agge ṭhapessati’.
‘Having sat in the Saṅgha of bhikkhus, he will place you in the foremost position in two things: in the quality of being worthy of offerings and in abiding free from defilements.’
“‘(Đức Gotama) sau khi ngự trong Tăng chúng, sẽ đặt ngươi ở vị trí tối thượng trong hai phương diện: về phẩm hạnh đáng được cúng dường và về trú trong vô tránh’.”
44.
44.
44.
‘‘Idaṃ vatvāna sambuddho, jalajuttamanāmako;
Nabhaṃ abbhuggamī vīro, haṃsarājāva ambare.
Having spoken these words, the Sammāsambuddha named Jalajuttama, the Hero, ascended into the sky, just as a swan-king ascends into the firmament.
“Sau khi nói lời này, Đức Chánh Đẳng Giác, bậc Đại Hùng, tên là Jalajuttama, đã bay lên trời như vua ngỗng bay lên trên bầu trời.”
45.
45.
45.
‘‘Sāsito lokanāthena, namassitvā tathāgataṃ;
Sadā bhāvemi mudito, buddhānussatimuttamaṃ.
Having been instructed by the Lord of the World, and having paid homage to the Tathāgata, I, being joyful, always develop the supreme recollection of the Buddha.
“Được bậc Lãnh Đạo Thế Gian giáo huấn, sau khi đảnh lễ Đức Như Lai, tôi luôn luôn hoan hỷ tu tập niệm Phật tối thượng.”
46.
46.
46.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa deva world.
“Do nghiệp được làm tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.”
47.
47.
47.
‘‘Asītikkhattuṃ devindo, devarajjamakārayiṃ;
Sahassakkhattuṃ rājā ca, cakkavattī ahosahaṃ.
Eighty times I exercised sovereignty as the king of the devas; and a thousand times I was a wheel-turning king.
“Tám mươi lần làm vua trời, tôi đã trị vì vương vị cõi trời. Và một ngàn lần, tôi đã là vua Chuyển Luân.”
48.
48.
48.
‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Anubhomi susampattiṃ, buddhānussatiyā phalaṃ.
Vast regional kingship, incalculable by number, and excellent fortune I experienced. This is the fruit of the recollection of the Buddha.
“Vương vị tiểu quốc rộng lớn không thể đếm được về số lượng. Tôi đã hưởng tài sản tốt đẹp. Đây là quả của niệm Phật.”
49.
49.
49.
‘‘Bhavābhave saṃsaranto, mahābhogaṃ labhāmahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, buddhānussatiyā phalaṃ.
Wandering in existences great and small, I obtain great wealth. There is no deficiency in my wealth. This is the fruit of the recollection of the Buddha.
“Trong khi luân hồi trong các kiếp lớn nhỏ, tôi nhận được tài sản lớn. Trong tài sản của tôi, không có sự thiếu hụt. Đây là quả của niệm Phật.”
50.
50.
50.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhānussatiyā phalaṃ.
One hundred thousand kappas ago, when I performed that kamma, from that time onwards I have not known a woeful state. This is the fruit of the recollection of the Buddha.
“Trong một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này, khi tôi đã làm nghiệp ấy, kể từ đó tôi không biết đến ác thú. Đây là quả của niệm Phật.”
51.
51.
51.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, the six higher knowledges have been realized; the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā subhūti thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Subhūti spoke these verses.
Như vậy, nghe nói rằng Trưởng lão Subhūti đã nói những câu kệ này.
Subhūtittherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Subhūti.
Thiên A-ba-đà-na thứ nhất về Trưởng lão Subhūti (chấm dứt).