Bản dịch
THA -ap235 — Ký Sự về Trưởng Lão Sālapūpiya
Sālapupphiyattheraapadāna
BJT 2432Tôi đã là người bán bánh ngọt ở thành phố Aruṇavatī. Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Sikhī đang đi ngang qua cánh cửa của tôi.
BJT 2433Với tâm ý trong sạch, tôi đã nhận lấy bình bát của đức Phật và đã dâng cúng bánh ngọt sālā đến đức Phật, bậc đã đi đến đạo lộ chân chánh.
BJT 2434(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng vật thực cứng trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bánh ngọt sālā.
BJT 2435Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là vị Amitañjala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2436Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sālapūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Sālapupphiyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Sālapupphiya
3. Thiên sự nghiệp của Trưởng lão Sālapupphiya
9.
9.
9.
‘‘Aruṇavatiyā nagare, ahosiṃ pūpiko tadā;
Mama dvārena gacchantaṃ, sikhinaṃ addasaṃ jinaṃ.
In the city of Aruṇavatī, I was a cake-maker then; I saw the Victor, Sikhī, passing by my door.
“Khi ấy, ở tại thành Aruṇavatī, tôi là người làm bánh. Tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Thắng Sikhī đang đi ngang qua cửa nhà của tôi.
10.
10.
10.
‘‘Buddhassa pattaṃ paggayha, sālapupphaṃ adāsahaṃ;
Sammaggatassa buddhassa, vippasannena cetasā.
Having taken the Buddha's bowl, I gave a sāla flower with a serene mind to the Buddha who has gone to perfection.
“Sau khi cầm lấy bình bát của đức Phật, tôi đã dâng cúng đóa hoa sāla. Với tâm ý trong sạch, (tôi đã dâng cúng) đến đức Phật, bậc Thiện Thệ.
11.
11.
11.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhidāsahaṃ †;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sālapupphassidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, for the flower I offered, I have not known a woeful state; this is the fruit of the sāla flower.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, khi ấy tôi đã dâng cúng đóa hoa. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của (việc cúng dường) đóa hoa sāla.”
12.
12.
12.
‘‘Ito cuddasakappamhi, ahosiṃ amitañjalo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the fourteenth aeon from this one, I was Amitañjala, a wheel-turning monarch of great strength, endowed with the seven treasures.
“Cách đây mười bốn kiếp, (tôi) là vị (vua) Amitañjala, người đầy đủ bảy báu vật, là vị Chuyển Luân vương có đại oai lực.
13.
13.
13.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích, ... như trên ... Giáo pháp của đức Phật đã được tôi thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sālapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus the Venerable Elder Sālapupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Sālapupphiya đã nói những câu kệ này.
Sālapupphiyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Sālapupphiya.
Thiên sự nghiệp của Trưởng lão Sālapupphiya là (thiên) thứ ba.