Bản dịch
THA -ap231 — Ký Sự về Trưởng Lão Sukatāveliya
9 Sukatāveḷiyattheraapadāna
BJT 2415Lúc bấy giờ, tôi đã là người làm tràng hoa tên Asita. Sau khi chọn lấy vòng hoa đội đầu, tôi đã ra đi để dâng lên đức vua.
BJT 2416Khi chưa gặp được đức vua, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Sikhī. Được mừng rỡ, tôi đã dâng (vòng hoa) lên đức Phật với tâm mừng rỡ.
BJT 2417(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2418Trước đây hai mươi lăm kiếp, tôi đã là vị vua có oai lực lớn lao tên Vebhāra, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2419Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sukatāveliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Sukatāveḷiyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Sukatāveḷiya.
9. Thánh tích của trưởng lão Sukatāveḷiya
43.
43.
43.
‘‘Asito nāma nāmena, mālākāro ahaṃ † tadā;
Āveḷaṃ paggahetvāna, rañño dātuṃ vajāmahaṃ.
At that time, I was a garland-maker named Asita. Having taken up a floral garland, I was going to give it to the king.
“Khi ấy, tôi là người làm vòng hoa, tên là Asita. Sau khi cầm lấy vòng hoa, tôi đã đi để dâng lên đức vua.”
44.
44.
44.
‘‘Asampattomhi † rājānaṃ, addasaṃ sikhināyakaṃ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, buddhassa abhiropayiṃ.
Before I reached the king, I saw the leader Sikhī. Joyful, and with a joyful mind, I offered it to the Buddha.
“Tôi đã chưa đến gặp đức vua thì đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo Sikhī. Với tâm hoan hỷ, tôi đã dâng cúng lên đức Phật.”
45.
45.
45.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons from this one, when I worshipped with that flower, I have known no woeful state; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Trong kiếp thứ ba mươi mốt tính từ đây, tôi đã cúng dường đóa hoa nào; (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.”
46.
46.
46.
‘‘Pañcavīse ito kappe, rājāhosiṃ mahabbalo;
Vebhāro nāma nāmena, cakkavattī mahabbalo.
Twenty-five aeons from this one, I was a king of great strength, a universal monarch of great might, Vebhāra by name.
“Trong kiếp thứ hai mươi lăm tính từ đây, tôi đã là vị vua có đại oai lực, một vị Chuyển Luân Vương tên là Vebhāra, có đại oai lực.”
47.
47.
47.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... tôi đã thực hành giáo huấn của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sukatāveḷiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Sukatāveḷiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Sukatāveḷiya đã nói những câu kệ này.
Sukatāveḷiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Sukatāveḷiya.
Thánh tích của trưởng lão Sukatāveḷiya là phần thứ chín.
24. The Water-Seat Chapter
24. Phẩm Udakāsana