Bản dịch
THA -ap22 — Ký Sự về Trưởng Lão Sumaṅgala
Sumaṅgalattheraapadāna
BJT 796Có ý định dâng tặng phẩm vật hiến cúng, tôi đã cho chuẩn bị vật thực. Trong khi chờ đợi các vị Bà-la-môn, tôi đã đứng ở khu vực bùng binh rộng lớn.
BJT 797Và tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Piyadassī có danh vọng lớn lao, bậc Hướng Đạo của toàn bộ thế gian, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả.
BJT 798Được tháp tùng bởi các vị Thinh Văn, đức Thế Tôn có hào quang, tợ như mặt trời đang chói sáng, đang tiến bước ở trên đường lộ.
BJT 799Sau khi chắp tay lên, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Tôi đã thỉnh mời dầu chỉ bằng tâm ý: “Mong sao bậc Đại Hiền Triết đi đến gần.”
BJT 800Biết được ý định của tôi, đấng Đạo Sư, bậc Vô Thượng ở thế gian, cùng với một ngàn bậc Lậu Tận đã đi đến cửa nhà của tôi.
BJT 801“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Xin thỉnh Ngài bước lên tòa lâu đài và ngồi xuống ở bảo tọa sư tử.”
BJT 802Bậc đã (tự) rèn luyện có đoàn tùy tùng đã được rèn luyện, bậc đã (tự) vượt qua, bậc cao quý trong số các vị đang tiếp độ (chúng sanh) vượt qua sau khi bước lên tòa lâu đài đã ngồi xuống ở chỗ ngồi quý cao.
BJT 803Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng cúng lên đức Phật vật thực mà tôi có được (và) đã được chuẩn bị ở trong căn nhà của chính mình.
BJT 804Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, sanh niềm phấn khởi, tôi đã chắp tay lễ bái đức Phật tối thượng. Ôi tính chất cao thượng của đức Phật!
BJT 805Trong số 8 hạng Thánh Nhân tùy tùng đang thọ thực, có nhiều bậc Vô Lậu. Oai lực ấy là của chính Ngài, con đi đến nương tựa vào Ngài.
BJT 806Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đã ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 807“Người nào đã chăm lo vật thực đến Hội Chúng có bản thể chính trực, định tĩnh, và (đến) đức Như Lai bậc Toàn Giác. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 808Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi bảy lần. Được hài lòng với việc làm của chính mình, người ấy sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên.
BJT 809Và người ấy sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương mười tám lần, và sẽ ngự trị năm trăm quốc độ thuộc đất liền ở trái đất.”
BJT 810Sau khi đã đi sâu vào trong khu vườn cây, khu rừng thưa, khu rừng rậm được lai vãng bởi loài cọp, và sau khi đã ra sức nỗ lực, các phiền não đã được thiêu đốt bởi tôi.
BJT 811Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây 1.800 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bữa ăn.
BJT 812Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumaṅgala đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sumaṅgala là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có bảo tọa sư tử, vị có một cây cột trụ, vị Nanda, vị Cullapanthaka, vị Piḷinda, và luôn cả vị Rāhula, vị Vaṅganta, vị Raṭṭhapāla, vị Sopāka, và luôn cả vị Maṅgala là mười (ký sự) thuộc phẩm thứ nhì. Và ở đây, có một trăm ba mươi tám câu kệ đã được giảng giải
Phẩm Sīhāsanadāyaka là phẩm thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Sumaṅgalattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Sumaṅgala
10. Thánh nhân ký sự của trưởng lão Sumaṅgala
124.
124.
124.
‘‘Āhutiṃ yiṭṭhukāmohaṃ, paṭiyādetvāna bhojanaṃ;
Brāhmaṇe paṭimānento, visāle māḷake ṭhito.
Desiring to offer a great sacrifice, having prepared the sacrificial food, I stood in a vast pavilion, reverently awaiting the brahmins.
Với mong muốn thực hiện lễ tế tự, tôi đã chuẩn bị vật thực; trong khi đang chờ đợi các vị Bà-la-môn, tôi đã đứng ở trong một gian sảnh rộng lớn.
125.
125.
125.
‘‘Athaddasāsiṃ sambuddhaṃ, piyadassiṃ mahāyasaṃ;
Sabbalokavinetāraṃ, sayambhuṃ aggapuggalaṃ.
Then I saw the Fully Enlightened One, Piyadassī, of great renown, the guide for the entire world, the Self-become One, the supreme person.
Khi ấy, tôi đã nhìn thấy đức Chánh Đẳng Giác Piyadassī, bậc có danh tiếng lớn lao, bậc dẫn dắt tất cả thế gian, bậc Tự Giác Ngộ, bậc Tối Thượng Nhân.
126.
126.
126.
‘‘Bhagavantaṃ jutimantaṃ, sāvakehi purakkhataṃ;
Ādiccamiva rocantaṃ, rathiyaṃ paṭipannakaṃ.
To the Blessed One, the radiant, surrounded by disciples, shining like the sun, walking along the road.
Đức Thế Tôn rực rỡ, được các vị đệ tử vây quanh, tỏa sáng như mặt trời, đang đi trên đường phố.
127.
127.
127.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Manasāva nimantesiṃ, ‘āgacchatu mahāmuni’.
Raising my hands in reverence, I gladdened my own mind; with my mind alone I invited him, saying: 'May the Great Sage come!'
Sau khi chắp tay, tôi đã làm cho tâm mình được tịnh tín; tôi đã thỉnh mời chỉ bằng ý nghĩ: 'Xin bậc Đại Ẩn Sĩ hãy ngự đến'.
128.
128.
128.
‘‘Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro;
Khīṇāsavasahassehi, mama dvāraṃ upāgami.
Knowing my intention, the Teacher, unsurpassed in the world, approached my door together with a thousand whose cankers were destroyed.
Bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, sau khi biết được ý định của tôi, đã đi đến cửa nhà tôi cùng với một ngàn vị lậu tận.
129.
129.
129.
‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Pāsādaṃ abhirūhitvā, sīhāsane nisīdataṃ †.
Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O supreme among men! Having ascended the palace, may you be seated on the lion-throne.
‘Kính lễ ngài, bậc Long Tượng trong loài người! Kính lễ ngài, bậc Tối Thắng trong loài người! Sau khi đi lên lầu đài, xin ngài hãy ngự trên bảo tọa.’
130.
130.
130.
‘‘Danto dantaparivāro, tiṇṇo tārayataṃ varo;
Pāsādaṃ abhirūhitvā, nisīdi pavarāsane.
Tamed, with a tamed retinue, having crossed over, the best of those who ferry others across; having ascended the palace, he sat on an excellent seat.
Bậc đã được điều phục, có đoàn tùy tùng đã được điều phục; bậc đã vượt qua, là đấng cao cả của những vị giúp vượt qua; sau khi đi lên lầu đài, ngài đã ngự trên chỗ ngồi cao quý.
131.
131.
131.
‘‘Yaṃ me atthi sake gehe, āmisaṃ paccupaṭṭhitaṃ;
Tāhaṃ buddhassa pādāsiṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
Whatever material offering was prepared in my own home, that I gave to the Buddha with a serene mind and with my own hands.
Vật thực nào có sẵn trong nhà của tôi, tôi đã dâng cúng vật thực ấy đến đức Phật, với tâm tịnh tín, bằng chính đôi tay của mình.
132.
132.
132.
‘‘Pasannacitto sumano, vedajāto katañjalī;
Buddhaseṭṭhaṃ namassāmi, aho buddhassuḷāratā.
With a serene mind, glad-hearted, with rapture arisen, and with hands raised in reverence, I pay homage to the supreme Buddha: ‘Ah, the magnificence of the Buddha!’
Với tâm tịnh tín, với ý hoan hỷ, với niềm hân hoan phát sanh, tôi chắp tay đảnh lễ bậc Tối Thắng Giác. Ôi, sự vĩ đại của đức Phật thật là thay!
133.
133.
133.
‘‘Aṭṭhannaṃ payirūpāsataṃ, bhuñjaṃ khīṇāsavā bahū;
Tuyheveso ānubhāvo, saraṇaṃ taṃ upemahaṃ.
Of the eight who attended and ate, many were those whose cankers were destroyed. This power is yours alone. I go to you for refuge.
Trong số tám (bậc Thánh) được phục vụ và thọ thực, có nhiều vị lậu tận. Đây chính là uy lực của ngài. Tôi xin quy y nơi ngài.
134.
134.
134.
‘‘Piyadassī ca bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā, imā gāthā abhāsatha.
The Blessed One Piyadassī, foremost in the world, a bull among men, having sat amidst the community of monks, spoke these verses:
Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Tối Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi ngự trong Tăng chúng Tỳ khưu, đã nói lên những câu kệ này.
135.
135.
135.
‘‘‘Yo so saṅghaṃ abhojesi, ujubhūtaṃ samāhitaṃ;
Tathāgatañca sambuddhaṃ, suṇātha mama bhāsato.
‘Listen to me as I speak: he who fed the Sangha—upright and composed—and the Tathāgata, the Fully Enlightened One…
‘Vị nào đã cúng dường đến Tăng chúng, là những bậc ngay thẳng, định tĩnh, và đến đấng Như Lai, bậc Chánh Đẳng Giác, các vị hãy lắng nghe lời của ta nói đây.’
136.
136.
136.
‘‘‘Sattavīsatikkhattuṃ so, devarajjaṃ karissati;
Sakakammābhiraddho so, devaloke ramissati.
‘Twenty-seven times he will exercise sovereignty among the devas; delighting in his own kamma, he will rejoice in the world of the devas.
‘Vị ấy sẽ làm vua cõi trời hai mươi bảy lần. Vị ấy, người vui thích trong nghiệp của mình, sẽ hoan hỷ ở thế giới chư Thiên.’
137.
137.
137.
‘‘‘Dasa aṭṭha cakkhattuṃ † so, cakkavattī bhavissati;
Pathabyā rajjaṃ pañcasataṃ, vasudhaṃ āvasissati’.
‘Eighteen times he will be a wheel-turning monarch; five hundred times he will exercise sovereignty over the earth, ruling the land.’
‘Vị ấy sẽ là vị Chuyển Luân Vương mười tám lần. Sẽ cai trị trên mặt đất, làm vua của một vùng năm trăm lần.’
138.
138.
138.
‘‘Araññavanamoggayha, kānanaṃ byagghasevitaṃ;
Padhānaṃ padahitvāna, kilesā jhāpitā mayā.
Having entered the forest wilderness, a jungle frequented by tigers, and having striven in exertion, the defilements were burned up by me.
Sau khi đi vào rừng hoang, khu rừng có cọp lui tới, sau khi đã tinh tấn nỗ lực, các phiền não đã được tôi thiêu đốt.
139.
139.
139.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bhattadānassidaṃ phalaṃ.
In the eighteen hundred aeons since I gave that gift, I know of no woeful destination; this is the fruit of an offering of food.
Một ngàn tám trăm kiếp về trước, khi ấy tôi đã thực hiện việc bố thí; từ đó tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc cúng dường vật thực.
140.
140.
140.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sumaṅgalo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Sumaṅgala spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Sumaṅgala khả kính đã nói những câu kệ này.
Sumaṅgalattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Tenth Apadāna of the Elder Sumaṅgala.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Sumaṅgala, phần thứ mười.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược như sau:
Sīhāsanī ekathambhī, nando ca cūḷapanthako;
Pilindarāhulo ceva, vaṅganto raṭṭhapālako.
Sīhāsanī, Ekathambhī, Nanda, and Cūḷapanthaka; Pilinda, Rāhula, Vaṅganta, and Raṭṭhapāla.
Sīhāsanī, Ekathambhī, Nanda, và Cūḷapanthaka; Pilinda và Rāhula, Vaṅganta, Raṭṭhapāla.
Sopāko maṅgalo ceva, daseva dutiye vagge;
Satañca aṭṭhatiṃsa ca, gāthā cettha pakāsitā.
Sopāka and Maṅgala, these ten are in the second chapter. And here one hundred and thirty-eight verses are declared.
Sopāka và Maṅgala, có mười vị ở trong phẩm thứ nhì. Và một trăm ba mươi tám câu kệ đã được tuyên thuyết ở đây.
The Second Chapter: The Sīhāsaniya.
Phẩm Sīhāsaniya, phần thứ nhì.