Bản dịch
THA -ap225 — Ký Sự về Trưởng Lão Dvirataniya
3 Dverataniyattheraapadāna
BJT 2384Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, vị thọ nhận các vật hiến cúng.
BJT 2385Tôi đã dâng cúng đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī một lát thịt. Tôi được thiết lập làm vị chúa tể ở thế gian luôn cả chư Thiên.
BJT 2386Do nhờ sự dâng cúng lát thịt này, châu báu sanh lên cho tôi. Hai loại châu báu này ở thế gian đưa đến sự thành tựu của đời hiện tại.
BJT 2387Tôi thọ hưởng tất cả các thứ ấy nhờ vào năng lực của sự dâng cúng lát thịt. Thân thể của tôi mềm mại, trí tuệ của tôi có sự nhận biết vi tế.
BJT 2388(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng lát thịt trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lát thịt.
BJT 2389Trước đây vào kiếp thứ tư, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng. Vị ấy tên là Mahārohita, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2390Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dvirataniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
(Tụng phẩm thứ mười).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Dverataniyattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Dverataniya
3. Thánh tích về Trưởng lão Dverataniya
12.
12.
12.
‘‘Migaluddo pure āsiṃ, araññe kānane ahaṃ;
Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ.
Formerly, I was a deer-hunter in the wilderness, in the forest. I saw the dust-free Buddha, worthy of receiving offerings.
“Trước đây, tôi đã là người thợ săn ở trong rừng rậm, trong chốn hoang dã. Tôi đã nhìn thấy đức Phật không còn bụi bẩn, là bậc đáng tiếp nhận các vật dâng cúng.”
13.
13.
13.
‘‘Maṃsapesi mayā dinnā, vipassissa mahesino;
Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, issaraṃ kārayāmahaṃ.
A piece of meat was given by me to the great seeker, Vipassī. In the world with its devas, I exercise lordship.
“Miếng thịt đã được tôi dâng cúng đến đức Vipassī, là bậc Đại ẩn sĩ. Ở trong thế gian cùng với chư Thiên, tôi thực thi quyền tối thượng.”
14.
14.
14.
‘‘Iminā maṃsadānena, ratanaṃ nibbattate mama;
Duveme ratanā loke, diṭṭhadhammassa pattiyā.
Through this gift of meat, treasure arises for me. These two treasures are mine in the world for the attainment of welfare in this present life.
“Do việc bố thí miếng thịt này, bảo vật được sanh ra cho tôi. Hai bảo vật này (sanh ra) cho tôi ở trong thế gian là để thành tựu các điều trong hiện tại.”
15.
15.
15.
‘‘Tehaṃ sabbe anubhomi, maṃsadānassa sattiyā;
Gattañca mudukaṃ mayhaṃ, paññā nipuṇavedanī.
I enjoy all of them through the power of the gift of meat. My body is soft, and I experience subtle wisdom.
“Tất cả các thứ ấy, tôi hưởng thụ là do năng lực của việc bố thí miếng thịt. Thân thể của tôi cũng được mềm mại, trí tuệ thì tế nhị và đáng được cảm nhận.”
16.
16.
16.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ maṃsamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, maṃsadānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago, when I gave that piece of meat, I have not known a woeful state since then. This is the fruit of the gift of meat.
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, khi tôi đã dâng cúng miếng thịt vào lúc ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc bố thí miếng thịt.”
17.
17.
17.
Dasamaṃ bhāṇavāraṃ.
The Tenth Recitation Section.
Phẩm Tụng thứ mười.