Bản dịch
THA -ap220 — Ký Sự về Trưởng Lão Akkantasaññaka
Akkantasaññakattheraapadāna
BJT 2355Sau khi cầm lấy tấm vải choàng thô xấu, tôi đã (đi đến) thành phố của vị thầy tế độ. Và tôi học tập về chú thuật làm bẻ gãy mũi tên.
BJT 2356Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, vị thọ nhận các vật hiến cúng. Là bậc ưu tú, quý cao, tột đỉnh, đức Phật Tissa là bậc Tối Thượng của đám đông.
BJT 2357Khi tấm vải choàng thô xấu được trải ra, đấng Tối Thượng Nhân, bậc Đại Hùng, đấng Trưởng Thượng của thế gian, bậc Nhân Ngưu trong khi bước đi đã đặt chân lên (tấm vải choàng).
BJT 2358Sau khi nhìn thấy đấng Quang Đăng của thế gian ấy tợ như mặt trăng không bị bợn nhơ, với tâm ý trong sạch tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.
BJT 2359(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng tấm vải choàng thô xấu trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của tấm vải choàng thô xấu.
BJT 2360Trước đây ba mươi bảy kiếp, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng tên Sunanda, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2361Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Akkantasaññaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Akkantasaññaka là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Akkantasaññakattheraapadānaṃ
8. The Apadāna of the Elder Akkantasaññaka
8. Thánh tích về trưởng lão Akkantasaññaka
37.
37.
37.
‘‘Kusāṭakaṃ gahetvāna, upajjhāyassahaṃ pure;
Mantañca anusikkhāmi, ganthādosassa † pattiyā.
Formerly, having taken a contemptible garment, I was with my preceptor; I was also studying the sacred texts for the sake of attaining faultlessness in the scriptures.
“Thuở trước, con đã cầm lấy tấm y cũ kỹ, ở nơi thầy tế độ, con đã học tập các câu chú thuật, vì mục đích đạt đến sự không sai lầm trong kinh điển.
38.
38.
38.
‘‘Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ;
Usabhaṃ pavaraṃ aggaṃ, tissaṃ buddhaṃ gaṇuttamaṃ †.
I saw the dust-free Buddha, worthy of offerings, a bull among men, the noble, the supreme, the Buddha Tissa, the best of the multitude.
“Con đã nhìn thấy đức Phật Tissa, bậc không còn bụi bặm, là người xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, là bậc Ngưu vương, là đấng Cao cả, là vị Tối thượng, là người ưu tú nhất trong hội chúng.
39.
39.
39.
‘‘Kusāṭakaṃ pattharitaṃ, akkamantaṃ naruttamaṃ;
Samuggataṃ mahāvīraṃ, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ.
The contemptible garment was spread out for the supreme man to tread upon—the eminent great hero, the world's chief, the bull among men.
“Tấm y cũ kỹ đã được trải ra để cho bậc Tối thắng giữa loài người, bậc nổi danh, bậc Anh hùng vĩ đại, bậc Trưởng thượng của thế gian, bậc Nhân ngưu bước lên.
40.
40.
40.
‘‘Disvā taṃ lokapajjotaṃ, vimalaṃ candasannibhaṃ;
Avandiṃ satthuno pāde, vippasannena cetasā.
Having seen that light of the world, stainless and like unto the moon, with a serene mind, I paid homage to the Teacher's feet.
“Sau khi nhìn thấy vị ấy, là ngọn đèn của thế gian, là bậc trong sạch, tương tự như mặt trăng, con đã đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư với tâm ý trong sáng.
41.
41.
41.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ adāsiṃ kusāṭakaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, kusāṭakassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-fourth aeon from this one, for the contemptible garment I gave, I have known no woeful state. This is the fruit of the contemptible garment.
“Kể từ kiếp thứ chín mươi tư, khi con đã dâng cúng tấm y cũ kỹ, con không còn biết đến cảnh khổ. Đây là quả báu của (việc cúng dường) tấm y cũ kỹ.
42.
42.
42.
‘‘Sattatiṃse ito kappe, eko āsiṃ janādhipo;
Sunando nāma nāmena, cakkavattī mahabbalo.
Thirty-seven aeons from this one, I was a sole ruler of men, Sunanda by name, a wheel-turning monarch of great power.
“Cách đây ba mươi bảy kiếp, con đã là một vị vua cai trị dân chúng, tên là Sunanda, là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.
43.
43.
43.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā akkantasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been fulfilled. Thus, it is said, the Venerable Elder Akkantasaññaka spoke these verses.
“Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.” Nghe nói, trưởng lão Akkantasaññaka đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Akkantasaññakattherassāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth Apadāna of the Elder Akkantasaññaka.
Thánh tích thứ tám về trưởng lão Akkantasaññaka đã kết thúc.