Bản dịch
THA -ap21 — Ký Sự về Trưởng Lão Sopāka
Sopākattheraapadāna
BJT 784Trong khi tôi đang dọn dẹp cái hang ở khu rừng tại ngọn núi cao nhất, đức Thế Tôn tên Siddhattha đã đi đến gặp tôi.
BJT 785Sau khi nhìn thấy đức Phật đã đi lại gần, tôi đã trải ra tấm thảm và đã dâng cúng chỗ ngồi làm bằng bông hoa đến bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 786Sau khi ngồi xuống ở chỗ ngồi làm bằng bông hoa, và sau khi biết được cảnh giới tái sanh của tôi, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha đã thốt lên về tính chất vô thường rằng:
BJT 787“Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.”
BJT 788Sau khi nói điều ấy, đấng Toàn Tri, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Trí Tuệ đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 789Sau khi từ bỏ tà kiến của mình, tôi đã tu tập tưởng về vô thường. Sau khi tu tập một ngày, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 790Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, tôi đã thọ hưởng hai sự thành tựu (trời và người). Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã sanh vào dòng dõi hạ liệt.
BJT 791Sau khi lìa khỏi gia đình, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 792Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, khéo được định tĩnh trong các giới, sau khi làm vui lòng bậc Long Tượng vĩ đại, tôi đã đạt được sự tu lên bậc trên.
BJT 793Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bông hoa.
BJT 794Kể từ khi tôi đã tu tập tưởng (về vô thường) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi đã đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc trong khi đang tu tập tưởng (về vô thường) ấy.
BJT 795Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sopāka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sopāka là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Sopākattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Sopāka
9. Thánh tích Trưởng lão Sopāka
112.
112.
112.
‘‘Pabbhāraṃ sodhayantassa †, vipine pabbatuttame;
Siddhattho nāma bhagavā, āgacchi mama santikaṃ.
While I was clearing a mountain cave in a forest on a supreme mountain, the Blessed One named Siddhattha came into my presence.
Trong khi tôi đang dọn dẹp hang động ở sườn núi, trong khu rừng rậm, trên ngọn núi cao quý; đức Thế Tôn tên là Siddhattha đã đi đến gần tôi.
113.
113.
113.
‘‘Buddhaṃ upagataṃ disvā, lokajeṭṭhassa tādino;
Santharaṃ santharitvāna †, pupphāsanamadāsahaṃ.
Having seen the Buddha who had approached, I spread out a mat of leaves and gave a flower-seat to him, the one foremost in the world, the Such-like one.
Sau khi nhìn thấy đức Phật đã đi đến, đến bậc Tối Thượng ở thế gian, là bậc Tādin; sau khi đã trải tấm lót bằng lá cây, tôi đã dâng cúng chỗ ngồi bằng hoa.
114.
114.
114.
‘‘Pupphāsane nisīditvā, siddhattho lokanāyako;
Mamañca gatimaññāya, aniccatamudāhari.
Having sat down on the flower-seat, Siddhattha, the leader of the world, having understood my future destiny, spoke of impermanence.
Sau khi ngự trên chỗ ngồi bằng hoa, đức Siddhattha, bậc Lãnh Đạo thế gian, và sau khi biết được cảnh giới của tôi, Ngài đã nói lên về sự vô thường.
115.
115.
115.
‘‘‘Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho’.
‘Indeed, conditioned things are impermanent, of the nature to arise and pass away. Having arisen, they cease; their stilling is bliss.’
‘Quả thật, các pháp hữu vi là vô thường, có bản chất sanh và diệt. Sau khi đã sanh lên, chúng bị hoại diệt; sự an tịnh của các pháp hữu vi ấy là an lạc.’
116.
116.
116.
‘‘Idaṃ vatvāna sabbaññū, lokajeṭṭho narāsabho;
Nabhaṃ abbhuggami vīro, haṃsarājāva ambare.
Having said this, the Omniscient One, the one foremost in the world, the bull among men, the Hero, rose up into the sky, like a swan-king in the firmament.
Sau khi nói lên lời này, bậc Toàn Tri, bậc Tối Thượng ở thế gian, bậc Ngưu Vương; bậc Đại Hùng đã bay lên không trung, giống như con thiên nga chúa ở trên bầu trời.
117.
117.
117.
‘‘Sakaṃ diṭṭhiṃ jahitvāna, bhāvayāniccasaññahaṃ;
Ekāhaṃ bhāvayitvāna, tattha kālaṃ kato ahaṃ.
Having abandoned my own view, I developed the perception of impermanence. Having developed it for a single day, I died there.
Sau khi đã từ bỏ tà kiến của mình, tôi đã tu tập tưởng về vô thường. Sau khi đã tu tập trong một ngày, tôi đã mệnh chung ở nơi ấy.
118.
118.
118.
‘‘Dve sampattī anubhotvā, sukkamūlena codito;
Pacchime bhave sampatte, sapākayonupāgamiṃ.
Having experienced two kinds of good fortune, impelled by a wholesome root, upon reaching my final existence, I came to a Sopāka birth.
Sau khi đã hưởng thụ hai loại thành tựu, được thúc đẩy bởi thiện căn trong sạch, khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã đi đến thai mẹ thuộc dòng dõi người hạ tiện (sapāka).
119.
119.
119.
‘‘Agārā abhinikkhamma, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Jātiyā sattavassohaṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having gone forth from the home into the homeless life, being seven years of age by birth, I attained Arahantship.
Sau khi từ bỏ gia đình, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi, vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh ra, đã chứng đắc quả A-la-hán.
120.
120.
120.
‘‘Āraddhavīriyo pahitatto, sīlesu susamāhito;
Tosetvāna mahānāgaṃ, alatthaṃ upasampadaṃ.
With energy aroused and mind directed, well-composed in the virtues, having pleased the Great Nāga, I obtained the higher ordination.
Là người có sự tinh tấn đã được khởi xướng, có tâm đã được hướng đến, được khéo định tĩnh ở trong các giới; sau khi đã làm cho bậc Đại Long (đức Phật) được hài lòng, tôi đã nhận được lễ cụ túc giới.
121.
121.
121.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphadānassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-fourth aeon from now, since I performed that deed, I have not known a bad destination; this is the fruit of the flower-offering.
Kể từ chín mươi bốn đại kiếp, về việc làm mà tôi đã thực hiện vào lúc ấy, tôi không hề biết đến cảnh khổ. Đây là quả báu của việc dâng cúng hoa.
122.
122.
122.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ saññaṃ bhāvayiṃ tadā;
Taṃ saññaṃ bhāvayantassa, patto me āsavakkhayo.
In the ninety-fourth aeon from now, when I developed that perception, through developing that perception, the destruction of the taints was attained by me.
Kể từ chín mươi bốn đại kiếp, về tưởng mà tôi đã tu tập vào lúc ấy, trong khi đang tu tập tưởng ấy, sự đoạn tận các lậu hoặc đã được tôi chứng đắc.
123.
123.
123.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha's teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sopāko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Sopāka spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Sopāka khả kính đã nói những câu kệ này.
Sopākattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The Ninth Apadāna of the Elder Sopāka.
Thánh nhân ký sự của trưởng lão Sopāka, phần thứ chín.