Bản dịch
THA -ap217 — Ký Sự về Trưởng Lão Raṃsisaññaka
Raṁsisaññakattheraapadāna
BJT 2339(Tôi đã nhìn thấy đức Phật) tợ như mặt trời đang mọc lên, tợ như mặt trời có tia sáng màu trắng, tợ như con hổ hùng tráng quý cao khéo được sanh ra, (đang ngồi) ở trong vùng đồi núi.
BJT 2340Năng lực ấy của đức Phật chói sáng ở trong vùng đồi núi. Sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín ở ánh hào quang, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2341Do nhờ sự tịnh tín ấy ở trong tâm và cũng nhờ vào sự niệm tưởng đến đức Phật, việc thiện đã được tôi thực hiện tốt đẹp trong các kiếp còn lại.
BJT 2342Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 2343Vào kiếp thứ năm mươi bảy, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng tên Sujāta, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2344Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Raṃsisaññakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Raṃsisaññaka
5. Thánh tích của Trưởng lão Raṃsisaññaka
21.
21.
21.
‘‘Udentaṃ sataraṃsiṃva, pītaraṃsiṃva † bhāṇumaṃ;
Byagghūsabhaṃva pavaraṃ, sujātaṃ pabbatantare.
I saw the Lord Sujāta in a mountain pass, like the rising, hundred-rayed sun, luminous with yellow rays, noble like a tiger-bull.
“(Tôi đã nhìn thấy đức Phật) Sujāta ở giữa khe núi, giống như mặt trời trăm tia đang mọc, có ánh sáng giống như mặt trăng, cao quý giống như con cọp chúa.”
22.
22.
22.
‘‘Buddhassa ānubhāvo so, jalate pabbatantare;
Raṃse † cittaṃ pasādetvā, kappaṃ saggamhi modahaṃ.
That power of the Buddha blazes in the mountain pass. Having gladdened my mind in his radiance, I rejoiced in heaven for an aeon.
“Oai lực ấy của đức Phật tỏa sáng ở giữa khe núi. Sau khi làm cho tâm tịnh tín ở nơi ánh hào quang, tôi đã hoan hỷ ở cõi trời suốt một kiếp.”
23.
23.
23.
‘‘Avasesesu kappesu, kusalaṃ caritaṃ mayā;
Tena cittappasādena, buddhānussatiyāpi ca.
In the remaining aeons, wholesome action was performed by me, because of that serenity of mind and also through the recollection of the Buddha.
“Trong các kiếp còn lại, việc thiện đã được tôi thực hành, do nhờ sự tịnh tín của tâm ấy và cũng do nhờ sự niệm tưởng đến đức Phật.”
24.
24.
24.
‘‘Tiṃsakappasahasseto, yaṃ saññamalabhiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhasaññāyidaṃ phalaṃ.
Thirty thousand aeons from this one, when I gained that perception, since then I have not known a woeful state. This is the fruit of the perception of the Buddha.
“Kể từ đây, trong ba mươi ngàn kiếp, vào lúc ấy tôi đã có được tưởng nào; (kể từ đó) tôi không biết đến cảnh khổ. Đây là quả của tưởng về đức Phật.”
25.
25.
25.
‘‘Sattapaññāsakappamhi, eko āsiṃ janādhipo;
Sujāto nāma nāmena, cakkavattī mahabbalo.
In the fifty-seventh aeon, I was once a ruler of men, a wheel-turning monarch of great strength, known by the name Sujāta.
“Trong kiếp thứ năm mươi bảy, tôi đã là một vị vua của dân chúng, có tên gọi là Sujāta, là vị vua Chuyển Luân có đại oai lực.”
26.
26.
26.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo Pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā raṃsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Raṃsisaññaka spoke these verses.
Như thế, nghe nói rằng Đại đức Trưởng lão Raṃsisaññaka đã nói lên những câu kệ này.
Raṃsisaññakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Raṃsisaññaka is concluded.
Phần Thánh tích của Trưởng lão Raṃsisaññaka là thứ năm.