Bản dịch
THA -ap216 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekasaññaka
Ekasaññakattheraapadāna
BJT 2335Sau khi nhìn thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ của bậc Đạo Sư được treo ở ngọn cây, tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ.
BJT 2336Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2337Trước đây hai mươi lăm kiếp, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng tên Amitābha, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2338Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ekasaññaka là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Ekasaññakattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Ekasaññaka
4. Thánh tích của Trưởng lão Ekasaññaka (Vị có một tưởng)
17.
17.
17.
‘‘Dumagge paṃsukūlikaṃ †, laggaṃ disvāna satthuno;
Añjaliṃ paggahetvāna, paṃsukūlaṃ avandahaṃ.
Seeing the Teacher's dust-heap robe caught on a treetop, having raised my joined hands in reverence, I venerated that dust-heap robe.
“Sau khi nhìn thấy chiếc y phấn tảo của đức Bậc Đạo Sư bị vướng mắc ở trên ngọn cây, tôi đã đưa hai tay lên chắp lại và đã đảnh lễ chiếc y phấn tảo.”
18.
18.
18.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ saññamalabhiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, when I gained that perception, since then I have not known a woeful state. This is the fruit of honoring the Buddha.
“Kể từ kiếp này, trong kiếp thứ ba mươi mốt, vào lúc ấy tôi đã có được tưởng nào; (kể từ đó) tôi không biết đến cảnh khổ. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
19.
19.
19.
‘‘Pañcavīse ito kappe, eko āsiṃ janādhipo;
Amitābhoti nāmena, cakkavattī mahabbalo.
In the twenty-fifth aeon from this one, I was once a ruler of men, a wheel-turning monarch of great strength, by the name of Amitābha.
“Kể từ kiếp này, trong kiếp thứ hai mươi lăm, tôi đã là một vị vua của dân chúng, có tên gọi là Amitābha, là vị vua Chuyển Luân có đại oai lực.”
20.
20.
20.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo Pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Ekasaññaka spoke these verses.
Như thế, nghe nói rằng Đại đức Trưởng lão Ekasaññaka đã nói lên những câu kệ này.
Ekasaññakattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Ekasaññaka is concluded.
Phần Thánh tích của Trưởng lão Ekasaññaka là thứ tư.