Bản dịch
THA -ap204 — Ký Sự về Trưởng Lão Minelapupphiya
Minelapupphiyattheraapadāna
BJT 2275Đức Thế Tôn Sikhī hùng tráng có màu da vàng chói, có trăm ánh hào quang, có sự huy hoàng, có tâm từ ái, đã bước lên con đường kinh hành.
BJT 2276Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, sau khi đảnh lễ bậc có trí tuệ tối thượng, tôi đã cầm lấy bông hoa minela và đã dâng lên đức Phật.
2277.(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2278Vào kiếp (thứ) hai mươi chín, (tôi đã là) vị tên Sumedhayasa, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2279Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Minelapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Minelapupphiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Minelapupphiya
2. Thánh tích của trưởng lão Minelapupphiya
5.
5.
5.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo bhagavā, sataraṃsī patāpavā;
Caṅkamanaṃ samārūḷho, mettacitto sikhīsabho.
The Blessed One, Sikhī, of golden complexion, of innumerable rays, majestic, with a mind of loving-kindness and mindfulness, ascended the walking path.
Đức Thế Tôn Sikhī, bậc Tối Thượng, có màu sắc như vàng ròng, có trăm tia sáng, có oai lực, có tâm từ, đã đi lên kinh hành đường.
6.
6.
6.
‘‘Pasannacitto sumano, vanditvā † ñāṇamuttamaṃ;
Minelapupphaṃ paggayha, buddhassa abhiropayiṃ.
With a confident and joyful mind, having venerated the supreme knowledge, holding up a minela flower, I offered it to the Buddha.
Với tâm ý trong sạch, với ý vui mừng, sau khi đảnh lễ bậc trí tuệ tối thượng, tôi đã cầm lấy đóa hoa minela và dâng cúng lên đức Phật.
7.
7.
7.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty-one eons ago from now, because of the flower I offered in worship, I have known no bad destination; this is the fruit of worshipping a Buddha.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, tính từ kiếp này, tôi đã cúng dường đóa hoa nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến đường ác. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
8.
8.
8.
‘‘Ekūnatiṃsakappamhi, sumeghaghananāmako;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
In the twenty-ninth eon from then, I was a wheel-turning monarch of great power, endowed with the seven treasures, named Sumeghaghana.
Vào kiếp thứ hai mươi chín (cách đây), tôi đã là vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực, tên là Sumeghaghana, là người được thành tựu bảy báu vật.
9.
9.
9.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā minelapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Minelapupphiya spoke these verses.
Nghe nói rằng, trưởng lão Minelapupphiya đã nói lên những câu kệ này như thế ấy.
Minelapupphiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Minelapupphiya is finished.
Thánh tích của trưởng lão Minelapupphiya, câu chuyện thứ hai.