Bản dịch
THA -ap198 — Ký Sự về Trưởng Lão Kisalayapūjaka
Kisalayapūjakattheraapadāna
BJT 2241Tôi đã có một vườn hoa ở thành phố Dvāravatī. Và có giếng nước ở ngay tại nơi ấy là nguồn cung cấp (nước) cho các loài thực vật.
BJT 2242Có lòng thương tưởng đến tôi, vị Siddhattha không bị đánh bại ấy, được hỗ trợ bằng năng lực của chính mình, đi đến ở trên không trung.
BJT 2243Tôi không nhìn thấy bất cứ vật nào khác đáng để cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ. Sau khi nhìn thấy chồi non của cây asoka, tôi đã thảy (chồi non ấy) lên không trung.
BJT 2244Trong khi đức Phật đang di chuyển, các chồi non ấy đi theo phía sau của Ngài. Tôi đây sau khi đã nhìn thấy thần thông ấy (đã tán dương rằng): “Ôi tính chất cao thượng của đức Phật!”
BJT 2245(Kể từ khi) tôi đã dâng lên chồi non trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2246Trước đây hai mươi bảy kiếp, tôi đã là vị Ekassara độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2247Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kisalayapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Kisalayapūjakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Kisalayapūjaka
6. Thánh hạnh của Trưởng lão Kisalayapūjaka
28.
28.
28.
‘‘Nagare dvāravatiyā, mālāvaccho mamaṃ ahu;
Udapāno ca tattheva, pādapānaṃ virohano.
“In the city of Dvāravatī, I had a young flowering plant; and in that very place, there was a well that made the trees grow.”
Ở tại thành Dvāravatī, tôi có một cây non. Và cũng tại nơi ấy, có một cái giếng làm cho cây cối sinh trưởng.
29.
29.
29.
‘‘Sabalena upatthaddho, siddhattho aparājito;
Mamānukampamāno so, gacchate anilañjase.
“Siddhattha, the unconquered, attended by his retinue, having compassion for me, travels through the sky, the path of the wind.”
Đức Phật Siddhattha, bậc Bất Bại, được năng lực của tự thân hỗ trợ, vì lòng bi mẫn đối với tôi, Ngài đã đi trong không trung, trên đường của gió.
30.
30.
30.
‘‘Aññaṃ kiñci na passāmi, pūjāyoggaṃ mahesino;
Asokaṃ pallavaṃ disvā, ākāse ukkhipiṃ ahaṃ.
“I saw nothing else suitable for offering to the Great Sage. Seeing an asoka sprout, I threw it up into the sky.”
Tôi không nhìn thấy vật gì khác thích hợp để cúng dường bậc Đại Sĩ. Sau khi thấy chồi non của cây vô ưu (asoka), tôi đã tung nó lên không trung.
31.
31.
31.
‘‘Buddhassa te kisalayā, gacchato yanti pacchato;
Tāhaṃ disvāna saṃvijiṃ †, aho buddhassuḷāratā.
“Those shoots follow behind the Buddha as he goes. Seeing that, I was stirred, thinking: ‘Oh, the magnificence of the Buddha!’”
Những chồi non ấy đã đi theo sau lưng đức Phật đang di chuyển. Sau khi nhìn thấy điều ấy, tôi đã xúc động: 'Ôi, thật là sự vĩ đại của đức Phật!'
32.
32.
32.
‘‘Catunnavutito kappe, pallavaṃ abhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-four eons ago from now, I offered that sprout. Since then, I have known no woeful state; this is the fruit of worshipping the Buddha.”
Cách nay chín mươi bốn kiếp, tôi đã dâng cúng chồi non ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh nữa; đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.