Bản dịch
THA -ap195 — Ký Sự về Trưởng Lão Khaṇḍaphulliya
Khaṇḍaphulliyattheraapadāna
BJT 2225Lúc bấy giờ, ngôi bảo tháp của đức Thế Tôn Phussa ở trong khu rừng bao la đã bị phá sập bởi các con voi, có cây cối đã mọc lên ở nơi ấy.
BJT 2226Được vui lòng với các đức hạnh của bậc Thầy của tam giới ấy, tôi đã san bằng chỗ lồi lõm và đã dâng cúng khối vôi bột.
BJT 2227Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của khối vôi bột.
BJT 2228(Trước đây) bảy mươi bảy kiếp, mười sáu vị (cùng) tên Jitasena đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2229Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Khaṇḍaphulliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Phussassa kho bhagavato, thūpo āsi mahāvane;
Kuñjarehi tadā bhinno, parūḷho pādapo † tahiṃ.
“Indeed, for the Blessed One Phussa, there was a stupa in the great forest; at that time, it was damaged by elephants, and a tree had grown there.”
Quả vậy, bảo tháp của đức Thế Tôn Phussa đã ở trong khu rừng lớn. Vào lúc ấy, bảo tháp đã bị các con voi làm hư hại, cây cối đã mọc lên ở nơi ấy.
13.
13.
13.
‘‘Visamañca samaṃ katvā, sudhāpiṇḍaṃ adāsahaṃ;
Tilokagaruno tassa, guṇehi paritosito †.
“Being pleased by the virtues of that one revered in the three worlds, I leveled the uneven ground and gave a lump of plaster.”
Sau khi làm cho nơi không bằng phẳng được trở nên bằng phẳng, tôi đã dâng cúng một nắm vữa tô. Tôi đã được hoan hỷ bởi các đức hạnh của vị ấy, là bậc Đáng tôn kính của ba cõi.
14.
14.
14.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sudhāpiṇḍassidaṃ phalaṃ.
“Ninety-two eons from this one, when I performed that deed, I have not known a wretched state since; this is the fruit of the lump of plaster.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi hai tính từ đây, vào lúc ấy tôi đã thực hiện nghiệp hành nào, tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của nắm vữa tô.
15.
15.
15.
‘‘Sattasattatikappamhi, jitasenāsuṃ soḷasa;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
“In the seventy-seventh eon, there were sixteen kings named Jitasena, endowed with the seven treasures, mighty wheel-turning monarchs.”
Vào kiếp thứ bảy mươi bảy, đã có mười sáu vị Chuyển Luân vương tên là Jitasena, là các vị có đầy đủ bảy báu, có đại oai lực.
16.
16.
16.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā khaṇḍaphulliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Elder Khaṇḍaphulliya spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Khaṇḍaphulliya đã nói lên những câu kệ này.
Khaṇḍapulliyattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Apadāna of the Elder Khaṇḍapulliya, the third.
Phần Thánh hạnh của Trưởng lão Khaṇḍapulliya, chương thứ ba.