Bản dịch
THA -ap183 — Ký Sự về Trưởng Lão Kuṭajapupphiya
Kuṭajapupphiyattheraapadāna
BJT 2152(Tôi đã nhìn thấy) đấng Toàn Giác có màu da vàng chói tợ như mặt trời đã mọc lên đang quan sát phương hướng trong lúc đang di chuyển ở không trung.
BJT 2153Sau khi nhìn thấy cây kuṭaja đã được trổ hoa, đã được phát tán ngang dọc, tôi đã ngắt lấy (bông hoa) từ trên cây và đã dâng lên (đức Phật) Phussa.
BJT 2154(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2155Trước đây 17 kiếp, bảy vị (cùng tên) Pupphita đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2156Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kuṭajapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kuṭajapupphiya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Kuṭajapupphiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Kuṭajapupphiya
1. Thánh tích của trưởng lão Kuṭajapupphiya
1.
1.
1.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, sataraṃsiṃva uggataṃ;
Disaṃ anuvilokentaṃ, gacchantaṃ anilañjase.
“I saw the Perfectly Enlightened One, golden-hued, like the rising sun, surveying the directions, traveling on the path of the wind.
“Bậc Chánh Đẳng Giác có màu sắc vàng ròng, giống như mặt trời đang mọc, đang nhìn ngắm các phương hướng, đang đi trong không trung.”
2.
2.
2.
‘‘Kuṭajaṃ pupphitaṃ disvā, saṃvitthatasamotthataṃ;
Rukkhato ocinitvāna, phussassa abhiropayiṃ.
“Having seen a blooming kuṭaja flower, well-spread and well-covered, I plucked it from the tree and offered it to the Buddha Phussa.
“Sau khi nhìn thấy hoa kuṭaja đang nở, được trải rộng và bao phủ, tôi đã hái từ trên cây và dâng cúng lên đức Phật Phussa.”
3.
3.
3.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-two aeons ago from this one, when I offered that flower, I have not known a woeful state—this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Cách đây chín mươi hai kiếp, tôi đã dâng cúng đóa hoa ấy. Tôi không còn biết đến khổ cảnh; đây là kết quả của việc cúng dường đức Phật.”
4.
4.
4.
‘‘Ito sattarase kappe, tayo āsuṃ supupphitā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
“Seventeen aeons ago from this one, there were three mighty wheel-turning monarchs named Supupphita, endowed with the seven treasures.
“Cách đây mười bảy kiếp, đã có ba vị Chuyển Luân Vương tên là Supupphita, các vị ấy có đầy đủ bảy báu và có đại oai lực.”
5.
5.
5.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six higher knowledges have been realized by me; the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kuṭajapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Kuṭajapupphiya spoke these verses.
Quả vậy, trưởng lão Kuṭajapupphiya đã nói những bài kệ này như thế.
Kuṭajapupphiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of the Elder Kuṭajapupphiya is concluded.
Thánh tích thứ nhất về trưởng lão Kuṭajapupphiya.