Bản dịch
THA -ap17 — Ký Sự về Trưởng Lão Piḷindivaccha
5 Pilindavacchattheraapadāna
BJT 728Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian nhân vật cao cả Sumedha đã Niết Bàn, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thể hiện sự cúng dường đến ngôi bảo tháp.
BJT 729Và ở tại nơi ấy, các vị nào là bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, có đại thần lực, tôi đã triệu tập các vị ấy lại ở tại nơi ấy và đã thực hiện bữa trai phạn đến Hội Chúng.
BJT 730Lúc bấy giờ, vị thị giả của đức Thế Tôn Sumedha tên là Sumodha đã có mặt. Khi ấy, vị ấy đã nói lời tùy hỷ.
BJT 731Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh về Thiên cung. Tám mươi sáu ngàn tiên nữ đã cùng tôi vui sướng.
BJT 732Các nàng ấy luôn luôn phục tòng chỉ mình tôi bằng mọi thứ dục lạc, tôi vượt trội các vị Thiên nhân khác; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 733Vào kiếp thứ hai mươi lăm, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ tên Varuṇa. Khi ấy, tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương có vật thực vô cùng tinh khiết.
BJT 734Dân chúng không gieo hạt giống, cũng không theo sau lưỡi cày, họ thọ dụng gạo sāli này không phải cày không phải nấu.
BJT 735Sau khi trị vì vương quốc tại nơi ấy, tôi đã đi đến bản thể Thiên nhân lần nữa. Khi ấy, cũng giống như tôi họ đã được tái sanh, có sự đầy đủ về của cải.
BJT 736Tất cả sanh linh, là bạn hay không phải là bạn, đều không hãm hại tôi. Thậm chí tôi được tất cả yêu quý; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 737Kể từ khi tôi đã cúng dường vật thí trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc thoa vật thơm (ở ngôi bảo tháp).
BJT 738Ở vào kiếp Bhadda này, tôi đã là vị thống lãnh dân chúng độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, có sức mạnh lớn lao.
BJT 739Tôi đây đã an trú nhiều người vào năm giới cấm và còn giúp cho họ đạt đến nhàn cảnh nữa, tôi đã được chư Thiên yêu quý.
BJT 740Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Piḷindivaccha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Piḷindivaccha là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Pilindavacchattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Pilindavaccha
5. Thánh nhân ký sự của Trưởng lão Pilindavaccha
55.
55.
55.
‘‘Nibbute lokanāthamhi, sumedhe aggapuggale;
Pasannacitto sumano, thūpapūjaṃ akāsahaṃ.
When Sumedha, the Lord of the World, the foremost person, had attained Nibbāna, with a confident mind and a joyful heart, I made an offering to his stupa.
“Khi bậc Lãnh đạo Thế gian, đức Sumedha, bậc Tối thượng nhân đã nhập Niết-bàn, với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã thực hiện việc cúng dường bảo tháp.”
56.
56.
56.
‘‘Ye ca khīṇāsavā tattha, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Tehaṃ tattha samānetvā, saṅghabhattaṃ akāsahaṃ.
And those taintless ones who were there, possessing the six supernormal knowledges and great psychic power—having gathered them there, I made an offering of a meal to the Saṅgha.
“Và những vị đã đoạn tận lậu hoặc ở nơi ấy, những vị có sáu thắng trí, có đại thần lực, tôi đã tập hợp các vị ấy lại tại nơi đó rồi thực hiện việc cúng dường vật thực đến Tăng đoàn.”
57.
57.
57.
‘‘Sumedhassa bhagavato, upaṭṭhāko tadā ahu;
Sumedho nāma nāmena, anumodittha so tadā.
At that time, there was an attendant of the Blessed One Sumedha, who was also named Sumedha. He then gave his blessing.
“Vào lúc ấy, có vị thị giả của đức Thế Tôn Sumedha, danh xưng là Sumedha. Khi ấy, vị ấy đã tùy hỷ (công đức).”
58.
58.
58.
‘‘Tena cittappasādena, vimānaṃ upapajjahaṃ;
Chaḷāsītisahassāni, accharāyo ramiṃsu me.
Through that confidence of mind, I arose in a celestial mansion; eighty-six thousand celestial nymphs delighted me.
“Do nhờ sự trong sạch của tâm ấy, tôi đã được sanh vào thiên cung. Tám mươi sáu ngàn tiên nữ đã làm cho tôi vui thích.”
59.
59.
59.
‘‘Mameva anuvattanti, sabbakāmehi tā sadā;
Aññe deve abhibhomi, puññakammassidaṃ phalaṃ.
They always attend only to me with all that is desired; I surpass the other devas. This is the fruit of meritorious kamma.
“Các nàng tiên nữ ấy luôn luôn chiều theo ý tôi về mọi dục lạc. Tôi vượt trội hơn các vị trời khác. Đây là quả của thiện nghiệp.”
60.
60.
60.
‘‘Pañcavīsatikappamhi, varuṇo nāma khattiyo;
Visuddhabhojano † āsiṃ, cakkavattī ahaṃ tadā.
Twenty-five kappas ago, I was a khattiya named Varuṇa. I was then a wheel-turning monarch who had pure food.
“Vào kiếp thứ hai mươi lăm, tôi là vị vua Sát-đế-lỵ tên là Varuṇa. Khi ấy, tôi là vị Chuyển luân vương, có được vật thực thanh tịnh.”
61.
61.
61.
‘‘Na te bījaṃ pavapanti, napi nīyanti naṅgalā;
Akaṭṭhapākimaṃ sāliṃ, paribhuñjanti mānusā.
They do not sow seeds, nor are ploughs brought forth; people consume rice that ripens without being ploughed.
“Họ không gieo hạt giống, cũng không mang theo cày bừa. Loài người thọ dụng loại lúa Sāli chín tự nhiên không cần cày cấy.”
62.
62.
62.
‘‘Tattha rajjaṃ karitvāna, devattaṃ puna gacchahaṃ;
Tadāpi edisā mayhaṃ, nibbattā bhogasampadā.
Having ruled the kingdom there, I went again to the state of a deva. Even then, such an abundance of wealth arose for me.
“Sau khi trị vì vương quốc ở nơi ấy, tôi lại đi đến cảnh giới chư Thiên. Ngay cả khi ấy, tài sản và sự sung túc tương tự như vậy cũng đã phát sanh cho tôi.”
63.
63.
63.
‘‘Na maṃ mittā amittā vā, hiṃsanti sabbapāṇino;
Sabbesampi piyo homi, puññakammassidaṃ phalaṃ.
Neither friends nor foes, nor any living beings, harm me. I am dear to all. This is the fruit of meritorious kamma.
“Bạn bè hay không phải bạn bè, không một chúng sanh nào làm hại tôi. Tôi trở thành người thân yêu của tất cả. Đây là quả của thiện nghiệp.”
64.
64.
64.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, gandhālepassidaṃ phalaṃ.
Since the gift I gave thirty thousand kappas ago, I have known no woeful destination. This is the fruit of the offering of perfume.
“Ba mươi ngàn kiếp trước, tôi đã thực hiện việc bố thí vào lúc ấy. (Kể từ đó), tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc cúng dường hương liệu.”
65.
65.
65.
‘‘Imasmiṃ bhaddake kappe, eko āsiṃ janādhipo;
Mahānubhāvo rājāhaṃ †, cakkavattī mahabbalo.
In this fortunate kappa, I was once a lord of men, a king of great majesty, a wheel-turning monarch of great strength.
“Trong kiếp hiền thiện này, tôi đã một lần là vị vua chúa của nhân loại, một vị vua có đại oai lực, một vị Chuyển luân vương có đại năng lực.”
66.
66.
66.
‘‘Sohaṃ pañcasu sīlesu, ṭhapetvā janataṃ bahuṃ;
Pāpetvā sugatiṃyeva, devatānaṃ piyo ahuṃ.
Having established many people in the five precepts and led them only to a good destination, I became dear to the devas.
“Tôi, sau khi đã an lập nhiều chúng sanh trong năm giới, đã đưa họ đến cõi lành, và đã trở thành người thân yêu của các chư Thiên.”
67.
67.
67.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized by me. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pilindavaccho † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Pilindavaccha spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pilindavaccha đã nói những câu kệ này.
Pilindavacchattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Fifth Apadāna of the Elder Pilindavaccha.
Phẩm truyện Trưởng lão Pilindavaccha, phần thứ năm.