Bản dịch
THA -ap168 — Ký Sự về Trưởng Lão Sappidāyaka
Sappidāyakattheraapadāna
BJT 2077Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tên Phussa, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Anh Hùng, trong khi giúp cho đám đông dân chúng thành tựu Niết Bàn, Ngài (đã) đi ở trên đường.
BJT 2078Theo tuần tự, đức Thế Tôn đã đi đến gần chỗ của tôi. Do đó, tôi đã nhận lấy bình bát và đã dâng cúng bơ lỏng và dầu ăn.
BJT 2079Kể từ khi tôi đã dâng cúng bơ lỏng trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bơ lỏng.
BJT 2080Trước đây 56 kiếp, tôi đã là vị tên Samodaka độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2081Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sappidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sappidāyaka là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Sappidāyakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Sappidāyaka
6. Phẩm truyện về trưởng lão Sappidāyaka (người dâng cúng bơ lỏng)
28.
28.
28.
‘‘Phusso nāmāsi † bhagavā, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Gacchate vīthiyaṃ vīro, nibbāpento mahājanaṃ.
The Blessed One was named Phussa, worthy of receiving offerings; the Hero went along the street, bringing peace to the great multitude.
“Đã có đức Thế Tôn tên là Phussa, là bậc đáng tiếp nhận các vật dâng cúng. Bậc Anh Hùng đi trên đường phố, trong khi làm cho đại chúng được an tịnh.
29.
29.
29.
‘‘Anupubbena bhagavā, āgacchi mama santikaṃ;
Tato taṃ † pattaṃ paggayha, sappitelamadāsahaṃ.
Gradually the Blessed One came into my presence; then, taking that bowl, I gave ghee-oil.
“Đức Thế Tôn đã tuần tự đi đến chỗ của tôi. Sau đó, sau khi cầm lấy bình bát ấy, tôi đã dâng cúng dầu bơ.
30.
30.
30.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ sappimadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, sappidānassidaṃ phalaṃ.
Ninety-two eons ago from this one, when I gave that ghee, I have not known a bad destination; this is the fruit of the gift of ghee.
“Kể từ kiếp thứ chín mươi hai tính từ đây, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng bơ lỏng nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc dâng cúng bơ lỏng.
31.
31.
31.
‘‘Chappaññāse ito kappe, eko āsi samodako;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Fifty-six eons ago from this one, there was one king named Samodaka, endowed with the seven treasures, a wheel-turning monarch of great power.
“Vào kiếp thứ năm mươi sáu tính từ đây, đã có một vị (vua) tên là Samodaka, là bậc Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
32.
32.
32.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sappidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Sappidāyaka spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Sappidāyaka đã nói lên những câu kệ này.
Sappidāyakattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Sappidāyaka is concluded.
Thánh tích của trưởng lão Sappidāyaka, câu chuyện thứ sáu.