Bản dịch
THA -ap167 — Ký Sự về Trưởng Lão Kaṇikāracchadaniya
5 Kaṇikārachattiyattheraapadāna
BJT 2072Đấng Toàn Giác Vessabhū, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Hiền Trí đã đi sâu vào khu rừng lớn cho việc nghỉ ngơi giữa ngày.
BJT 2073Khi ấy, tôi đã thu nhặt bông hoa kaṇikāra và đã làm chiếc lọng che. Sau khi thực hiện chiếc lọng che bằng bông hoa, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 2074(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2075Trước đây hai mươi kiếp, tám vị Sát-đế-lỵ (cùng) tên Soṇṇābha đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2076Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kaṇikāracchadaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kaṇikāracchadaniya là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Kaṇikārachattiyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Kaṇikārachattiya
5. Phẩm truyện về trưởng lão Kaṇikārachattiya (người dâng lọng hoa Kaṇikāra)
23.
23.
23.
‘‘Vessabhū nāma sambuddho, lokajeṭṭho narāsabho;
Divāvihārāya muni, ogāhayi mahāvanaṃ.
The Perfectly Enlightened One named Vessabhū, foremost in the world, the bull among men; the Sage entered the great forest for his daytime abiding.
“Bậc Chánh Đẳng Giác tên là Vessabhū, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, bậc Mâu-ni ấy đã đi vào khu rừng lớn để an trú ban ngày.
24.
24.
24.
‘‘Kaṇikāraṃ ocinitvā, chattaṃ katvānahaṃ tadā;
Pupphacchadanaṃ katvāna, buddhassa abhiropayiṃ.
Gathering kaṇikāra flowers, I then made a parasol. Having made a floral covering, I raised it over the Buddha.
“Vào lúc ấy, sau khi đã hái hoa kaṇikāra, tôi đã làm thành một chiếc lọng. Sau khi đã làm thành mái che bằng hoa, tôi đã giương lên cho đức Phật.
25.
25.
25.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty-one eons ago from this one, when I offered that flower, I have not known a bad destination; this is the fruit of worshipping the Buddha.
“Kể từ kiếp thứ ba mươi mốt tính từ đây, khi tôi đã dâng cúng đóa hoa ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
26.
26.
26.
‘‘Ito vīsatikappamhi, soṇṇābhā aṭṭha khattiyā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
Twenty eons ago from this one, there were eight kings named Soṇṇābhā, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great power.
“Vào kiếp thứ hai mươi tính từ đây, đã có tám vị vua Sát-đế-lỵ tên là Soṇṇābhā, là các bậc Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
27.
27.
27.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kaṇikārachattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Kaṇikārachattiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Kaṇikārachattiya đã nói những câu kệ này.
Kaṇikārachattiyattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Kaṇikārachattiya.
Phẩm truyện về trưởng lão Kaṇikārachattiya là phẩm thứ năm.