Bản dịch
THA -ap154 — Ký Sự về Trưởng Lão Tambapupphiya
Tambapupphiyattheraapadāna
BJT 1999Là người bị bận rộn trong việc quán xuyến công việc của người khác, tôi đã làm điều lầm lỗi. Bị xâm chiếm bởi nỗi lo sợ và hốt hoảng, tôi đã trốn chạy đến cuối khu rừng.
BJT 2000Sau khi nhìn thấy giống cây đã được trổ hoa, dính thành từng chùm, khéo léo phô bày, tôi đã ngắt lấy bông hoa màu nâu đỏ và đã rải rắc ở cội cây Bồ Đề.
BJT 2001Sau khi quét dọn cội cây Bồ Đề là giống cây pāṭalī tối thượng ấy, tôi đã xếp chân vào tư thế kiết già và ngồi xuống ở gốc cội cây Bồ Đề.
BJT 2002Trong khi tìm kiếm con đường (tôi) đã đi qua, bọn họ đã đến gần chỗ tôi. Và ở tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy bọn họ, tôi đã quan sát cội cây Bồ Đề tối thượng.
BJT 2003Và với tâm ý trong sạch, tôi đã đảnh lễ cội cây Bồ Đề. Tôi đã bị rơi xuống ở hẻm núi đáng kinh sợ có độ sâu bằng nhiều cây thốt nốt.
BJT 2004(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.
BJT 2005Và trước đây vào kiếp thứ ba, tôi đã là đức vua Susaññata, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2006Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tambapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tambapupphiya là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Tambapupphiyattheraapadānaṃ
2. The Second Apadāna: The Elder Tambapupphiya
2. Thánh tích về Trưởng lão Tambapupphiya
7.
7.
7.
‘‘Parakammāyane yutto, aparādhaṃ akāsahaṃ;
Vanantaṃ abhidhāvissaṃ, bhayaverasamappito.
Engaged in another’s work, I committed an offense. Afflicted by fear and hostility, I fled to the forest.
Do bận rộn trong công việc của người khác, tôi đã phạm lỗi lầm. Bị áp chế bởi sự sợ hãi và hận thù, tôi đã chạy trốn vào bìa rừng.
8.
8.
8.
‘‘Pupphitaṃ pādapaṃ disvā, piṇḍibandhaṃ sunimmitaṃ;
Tambapupphaṃ gahetvāna, bodhiyaṃ okiriṃ ahaṃ.
Seeing a flowering tree, I took a red flower, well-formed in a cluster, and scattered it on the Bodhi tree.
Sau khi nhìn thấy cây đang trổ hoa, một chùm hoa được kết lại thật khéo léo, tôi đã lấy đóa hoa màu đồng và đã rải lên cây Bồ Đề.
9.
9.
9.
‘‘Sammajjitvāna taṃ bodhiṃ, pāṭaliṃ pādaputtamaṃ;
Pallaṅkaṃ ābhujitvāna, bodhimūle upāvisiṃ.
Having swept that Bodhi tree, the Pāṭali, the excellent tree, and having sat cross-legged, I sat down at the foot of the Bodhi tree.
Sau khi quét dọn cây Bồ Đề ấy, cây pāṭali là cây cao quý nhất, tôi đã ngồi xuống theo thế kiết-già ở tại gốc cây Bồ Đề.
10.
10.
10.
‘‘Gatamaggaṃ gavesantā, āgacchuṃ mama santikaṃ;
Te ca disvānahaṃ tattha, āvajjiṃ bodhimuttamaṃ.
Searching for the path I had taken, they came into my presence. And having seen them, I there turned my mind to the supreme Bodhi tree.
Những người tìm kiếm con đường tôi đã đi đã đi đến gần tôi. Sau khi nhìn thấy họ, tôi đã suy tưởng ở nơi ấy về cây Bồ Đề cao thượng.
11.
11.
11.
‘‘Vanditvāna ahaṃ bodhiṃ, vippasannena cetasā;
Anekatāle papatiṃ, giridugge bhayānake.
Having paid homage to the Bodhi tree with a devoted mind, I fell from a height of many palm trees into a dreadful, impassable mountain gorge.
Sau khi đảnh lễ cây Bồ Đề với tâm ý trong sáng, tôi đã bị rơi xuống vực núi hiểm trở, đáng sợ hãi, (sâu) bằng nhiều cây ta-la.
12.
12.
12.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bodhipūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago, when I offered that flower, I have not since known an unhappy destination. This is the fruit of worshipping the Bodhi tree.
Cách nay chín mươi mốt kiếp, tôi đã dâng lên đóa hoa nào. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của việc cúng dường cây Bồ Đề.
13.
13.
13.
‘‘Ito ca tatiye kappe, rājā susaññato ahaṃ †;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
And three aeons ago from now, I was King Susaññata, endowed with the seven treasures, a wheel-turning monarch of great strength.
Và cách nay vào kiếp thứ ba, tôi là vị vua tên Susannata, được đầy đủ bảy loại báu vật, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực.
14.
14.
14.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (đã được chứng ngộ), lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tambapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Tambapupphiya spoke these verses.
Như vậy, nghe nói rằng trưởng lão Tambapupphiya khả kính đã nói lên những câu kệ này.
Tambapupphiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Tambapupphiya.
Phẩm truyện về trưởng lão Tambapupphiya, phần thứ hai.