Bản dịch
THA -ap152 — Ký Sự về Trưởng Lão Pallaṅkadāyaka
Pallaṅkadāyakattheraapadāna
BJT 1988Tôi đã dâng cúng chiếc ghế bành có mái che ở phía trên đến đức Thế Tôn Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 1989Lúc bấy giờ, chiếc ghế bành ấy có đầy đủ bảy loại châu báu luôn luôn sanh lên cho tôi, đúng theo ý định của tôi.
BJT 1990Kể từ khi tôi đã dâng cúng chiếc ghế bành trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc ghế bành.
BJT 1991(Trước đây) hai chục ngàn kiếp, ba người (cùng) tên Suvaṇṇābha (đã là) các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1992Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pallaṅkadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Chiếc lọng che, cây cột (đèn), viền rào quanh, vị có nhóm tùy tùng, vị liên quan đến bông hoa umma, vị tô trét, vị dâng cúng đường đi, vị dâng cúng tấm ván gỗ, vị có vòng hoa đội đầu, vị dâng cúng chiếc ghế bành; (tổng cộng) có năm mươi sáu câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Chatta là phẩm thứ mười lăm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Pallaṅkadāyakattheraapadānaṃ
10. The Tenth Apadāna: The Elder Pallaṅkadāyaka
10. Thánh tích về Trưởng lão Pallaṅkadāyaka
48.
48.
48.
‘‘Sumedhassa bhagavato, lokajeṭṭhassa tādino;
Pallaṅko hi mayā dinno, sauttarasapacchado.
To the Blessed One Sumedha, the foremost in the world, the steadfast one, a couch with a canopy and a bedspread was indeed given by me.
Đến đức Thế Tôn Sumedha, là bậc Tối Thượng ở đời, là bậc Tādī, chiếc ngai vàng cùng với tấm phủ và tấm trải đã được tôi dâng cúng.
49.
49.
49.
‘‘Sattaratanasampanno, pallaṅko āsi so tadā;
Mama saṅkappamaññāya, nibbattati sadā mama.
That couch was then endowed with the seven treasures. Knowing my intention, it always arises for me.
Vào lúc ấy, chiếc ngai vàng ấy đã được đầy đủ bảy loại báu vật. Do biết được ý nguyện của tôi, nó luôn luôn hiện ra cho tôi.
50.
50.
50.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, pallaṅkamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pallaṅkassa idaṃ phalaṃ.
Thirty thousand aeons ago, when I gave that couch, I have not known an unhappy destination. This is the fruit of the couch.
Trong ba mươi ngàn kiếp, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng chiếc ngai vàng. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của (việc cúng dường) ngai vàng.
51.
51.
51.
‘‘Vīsakappasahassamhi, suvaṇṇābhā tayo janā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
Twenty thousand aeons ago, there were three persons, golden-hued, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great strength.
Trong hai mươi ngàn kiếp, đã có ba vị tên là Suvaṇṇābhā, là các đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được đầy đủ bảy loại báu vật.
52.
52.
52.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (đã được chứng ngộ), lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pallaṅkadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Pallaṅkadāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pallaṅkadāyaka đã nói những câu kệ này.
Pallaṅkadāyakattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Pallaṅkadāyaka is concluded.
Thánh tích về Trưởng lão Pallaṅkadāyaka, là (truyện) thứ mười.
The Fifteenth Chapter: The Umbrella Chapter.
Phẩm Lọng Che, là (phẩm) thứ mười lăm.
Tassuddānaṃ –
The summary of it:
Phần Tóm Lược:
Chattaṃ thambho ca vedi ca, parivārumapupphiyo;
Anulepo ca maggo ca, phalako ca vaṭaṃsako;
Pallaṅkadāyī ca gāthāyo, chappaññāsa pakittitāti.
Chatta, Thambha, Vedi, Parivāra, Ummāpupphiya, Anulepa, Magga, Phalaka, Vaṭaṃsaka, and Pallaṅkadāyaka; the verses are declared to be fifty-six.
(Trưởng lão) Chatta, Thambha, Vedi, Parivāra, Umapupphiya, Anulepa, Magga, Phalaka, Vaṭaṃsaka, và Pallaṅkadāyī. Các câu kệ được kể là năm mươi sáu.