Bản dịch
THA -ap151 — Ký Sự về Trưởng Lão Vaṭaṃsakiya
Vaṭaṁsakiyattheraapadāna
BJT 1983Đấng Tự Chủ bậc không bị đánh bại tên Sumedha, trong khi thực hành hạnh độc cư, đã đi sâu vào khu rừng lớn.
BJT 1984Sau khi nhìn thấy cây salala đã được trổ hoa, tôi đã buộc thành vòng hoa đội đầu. Tôi đã dâng lên đức Phật bằng cách đặt ở trước mặt đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 1985(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1986(Trước đây) một ngàn chín trăm kiếp, mười sáu vị (cùng) tên Nimmita đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1987Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vaṭaṁsakiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vaṭaṁsakiya là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Vaṭaṃsakiyattheraapadānaṃ
9. The Ninth Apadāna: The Elder Vaṭaṃsakiya
9. Thiên truyện về Trưởng lão Vaṭaṃsakiya
43.
43.
43.
‘‘Sumedho nāma nāmena, sayambhū aparājito;
Vivekamanubrūhanto, ajjhogahi mahāvanaṃ.
The Self-arisen, the Unconquered One, named Sumedha by name, developing seclusion, entered the great forest.
Bậc Tự Sanh, bậc Vô Năng Thắng, có tên là Sumedha, trong khi đang phát triển sự độc cư, đã đi sâu vào khu rừng lớn.
44.
44.
44.
‘‘Saḷalaṃ pupphitaṃ disvā, ganthitvāna † vaṭaṃsakaṃ;
Buddhassa abhiropesiṃ, sammukhā lokanāyakaṃ.
Seeing a flowering pine tree, I wove a chaplet and placed it upon the Buddha, the Leader of the World, in his very presence.
Sau khi nhìn thấy cây thông đang trổ hoa, ta đã kết thành một vòng hoa trang điểm và đã dâng lên đức Phật, bậc Lãnh Đạo thế gian, ở trước mặt ngài.
45.
45.
45.
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty thousand aeons ago, I offered up that flower. Since then, I have not known an unhappy destination; this is the fruit of venerating the Buddha.
Cách đây ba mươi ngàn kiếp, ta đã dâng cúng đóa hoa nào; (kể từ đó) ta không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đến đức Phật.
46.
46.
46.
‘‘Ūnavīse kappasate, soḷasāsuṃ sunimmitā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
Nineteen hundred aeons ago, there were sixteen wheel-turning monarchs of great power named Sunimmita, endowed with the seven treasures.
Vào một ngàn chín trăm kiếp (cách đây), đã có mười sáu vị (vua) tên là Sunimmita, là các đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, sở hữu đầy đủ bảy báu vật.
47.
47.
47.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā vaṭaṃsakiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Vaṭaṃsakiya recited these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Vaṭaṃsakiya đã nói những câu kệ này.
Vaṭaṃsakiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Vaṭaṃsakiya is concluded.
Thiên truyện về Trưởng lão Vaṭaṃsakiya là phần thứ chín.