Bản dịch
THA -ap142 — Ký Sự về Trưởng Lão Piyālaphaladāyaka
10 Piyālaphaladāyakattheraapadāna
BJT 1934Lúc bấy giờ, tôi đã là kẻ đồ tể, là kẻ giết hại các sanh mạng khác. Tôi nằm ngủ ở sườn núi không xa bậc Đạo Sư Sikhī.
BJT 1935Tôi nhìn thấy đức Phật, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian vào ban đêm và ban ngày. Nhưng vật xứng đáng để dâng cúng đến đấng Chúa Tể của loài người thì tôi không có.
BJT 1936Tôi đã cầm lấy trái cây piyāla và đã đi đến gần đức Phật. Đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã thọ nhận.
BJT 1937Kế từ đó về sau tôi đã theo phục vụ đấng Hướng Đạo. Với sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1938(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 1939Trước đây mười lăm kiếp, ba vị (tên) Piyālī đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1940Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Piyālaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Piyālaphaladāyaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Sobhita, vị Sudassana, (vị dâng cúng) trầm hương, (vị dâng cúng) mái che bằng bông hoa, vị suy tưởng về nơi thanh vắng, vị có bông hoa campaka, cùng với vị chỉ dạy về mục đích, vị có một lần tịnh tín, vị dâng cúng bông hoa sālā, và vị dâng cúng trái cây là thứ mười; (tổng cộng) có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Sobhita là phẩm thứ mười bốn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Piyālaphaladāyakattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Piyālaphaladāyaka
10. Thánh hạnh truyện của trưởng lão Piyālaphaladāyaka
66.
66.
66.
‘‘Pārāvato † tadā āsiṃ, paraṃ anuparodhako;
Pabbhāre seyyaṃ kappemi, avidūre sikhisatthuno.
At that time I was a pigeon, not harming others. I made my dwelling in a mountain cleft, not far from the Teacher Sikhi.
Khi ấy, tôi là chim bồ câu, không làm phiền nhiễu kẻ khác. Tôi làm chỗ ngủ trong hang núi, không xa đức Bổn Sư Sikhī.
67.
67.
67.
‘‘Sāyaṃ pātañca passāmi, buddhaṃ lokagganāyakaṃ;
Deyyadhammo ca me natthi, dvipadindassa tādino.
In the evening and morning I would see the Buddha, the world's foremost leader. Yet I had no offering to give to the Steadfast One, the lord of bipeds.
Sáng và chiều, tôi nhìn thấy đức Phật, là vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian. Và tôi không có vật dụng cúng dường nào dành cho bậc Tādī, là đấng Tối Thắng của hai chân.
68.
68.
68.
‘‘Piyālaphalamādāya, agamaṃ buddhasantikaṃ;
Paṭiggahesi bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho.
Taking a piyāla fruit, I went into the presence of the Buddha. The Blessed One, the foremost in the world, the bull among men, accepted it.
Sau khi lấy quả piyāla, tôi đã đi đến gần đức Phật. Đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Nhân Ngưu đã thọ nhận.
69.
69.
69.
‘‘Tato paraṃ upādāya, paricāriṃ vināyakaṃ;
Tena cittappasādena, tattha kālaṅkato ahaṃ.
From that time onwards, I attended upon the Guide. With that serene confidence, I passed away there.
Kể từ sau đó, tôi đã phục vụ bậc Lãnh Đạo. Với tâm ý trong sạch ấy, tôi đã mệnh chung tại nơi ấy.
70.
70.
70.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ phalaṃ adadiṃ ahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, phaladānassidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons ago from this one, when I gave that fruit, I have known no bad destination. This is the fruit of giving a fruit.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, tôi đã dâng cúng quả cây ấy. Tôi không còn biết đến đọa xứ; đây là quả báu của việc dâng cúng quả cây.
71.
71.
71.
‘‘Ito pannarase kappe, tayo āsuṃ piyālino;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
Fifteen aeons ago from this one, there were three named Piyālino, mighty wheel-turning monarchs endowed with the seven jewels.
Cách đây mười lăm kiếp, đã có ba vị tên là Piyālino, là các đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
72.
72.
72.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā piyālaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Elder Piyālaphaladāyaka uttered these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Piyālaphaladāyaka đã nói những câu kệ này.
Piyālaphaladāyakattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Piyālaphaladāyaka is concluded.
Kết thúc Thánh hạnh truyện của trưởng lão Piyālaphaladāyaka, phần thứ mười.
The Sobhita Chapter, the fourteenth, is concluded.
Phẩm Sobhita, phẩm thứ mười bốn.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm lược như sau:
Sobhitasudassano ca, candano pupphachadano;
Raho campakapupphī ca, atthasandassakena ca.
Sobhita and Sudassana, Candana, Pupphachadana; Raho and Campakapupphī, and with Atthasandassaka.
Sobhita, và Sudassana, Candana, Pupphachadana, Raho, và Campakapupphī, cùng với Atthasandassaka.
Ekapasādī † sāladado, dasamo phaladāyako;
Gāthāyo sattati dve ca, gaṇitāyo vibhāvibhi.
Ekapasādī, Sāladada, and the tenth, Phaladāyaka. Seventy-two verses have been counted by the discerning.
Ekapasādī, Sāladada, vị thứ mười là Phaladāyaka. Các câu kệ đã được những người thông thái đếm là bảy mươi hai.