Bản dịch
THA -ap14 — Ký Sự về Trưởng Lão Ekatthambhika
Ekatthambhikattheraapadāna
BJT 686Đức Thế Tôn Siddhattha đã có hội chúng cư sĩ đông đảo. Những người ấy đã đi đến nương nhờ vào đức Phật, họ đặt niềm tin vào đức Như Lai.
BJT 687Tất cả đã tụ hội lại, bàn bạc, rồi xây dựng hội trường dành cho bậc Đạo Sư. Không có được một cây cột trụ, họ tìm kiếm ở khu rừng bạt ngàn.
BJT 688Khi ấy, tôi đã nhìn thấy bọn họ ở trong rừng và đã đi đến gần đám đông. Sau khi chắp tay lên, tôi đã hỏi đám đông.
BJT 689Được tôi hỏi, những người cư sĩ có giới hạnh ấy đã trả lời rằng: “Chúng tôi có ý định xây dựng hội trường nhưng không có được một cây cột trụ.”
BJT 690“Xin các vị hãy giao cho tôi, tôi sẽ dâng đến bậc Đạo Sư một cây cột trụ. Tôi sẽ mang cây cột trụ đến, các vị không phải bận tâm.”
BJT 691Họ đã xem xét cây cột trụ của tôi, và đã được tin tưởng với tâm ý hớn hở. Sau đó, họ đã quay trở lại và đã đi về nhà của mình.
BJT 692Khi ấy, lúc đám đông cư sĩ ra đi không lâu, tôi đã dâng cúng cây cột trụ. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã dựng đứng cây cột trụ trước tiên.
BJT 693Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời. Có cung điện cao ráo dành cho tôi, được vươn cao một trăm tầng lầu.
BJT 694Khi ấy, tôi luôn luôn được người hầu hạ trong lúc những chiếc trống lớn được vỗ vang. (Trước đây) năm mươi lăm kiếp, tôi đã là đức vua Yasodhara.
BJT 695Ở tại nơi ấy, dành cho tôi cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu, được kề cận nhà mái nhọn cao quý, và có một cây cột trụ thích ý.
BJT 696(Trước đây) hai mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Udena. Ở tại nơi ấy, cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu dành cho tôi.
BJT 697Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều thọ hưởng mọi sự an lạc; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 698Kể từ khi tôi đã dâng cúng cây cột trụ trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 699Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekatthambhikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Ekatthambhikattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Ekatthambika
2. Thiên sự về Trưởng lão Thí chủ Một Cây Cột
13.
13.
13.
‘‘Siddhatthassa bhagavato, mahāpūgagaṇo ahu;
Saraṇaṃ gatā ca te buddhaṃ, saddahanti tathāgataṃ.
Of the Blessed One Siddhattha, there was a great meritorious association; they went for refuge to the Buddha and had faith in the Tathāgata.
“Đã có một hội chúng đông đảo của đức Thế Tôn Siddhattha. Và họ đã đi đến quy y đức Phật, họ có đức tin nơi đấng Như Lai.
14.
14.
14.
‘‘Sabbe saṅgamma mantetvā, māḷaṃ kubbanti satthuno;
Ekatthambhaṃ alabhantā, vicinanti brahāvane.
Having all gathered and consulted, they were making a pavilion for the Teacher. Not obtaining a single pillar, they searched in the great forest.
“Tất cả đã cùng nhau hội họp và bàn bạc, họ xây dựng một gian sảnh cho đức Đạo Sư. Do không tìm được một cây cột, họ đã tìm kiếm ở trong khu rừng lớn.
15.
15.
15.
‘‘Tehaṃ araññe disvāna, upagamma gaṇaṃ tadā;
Añjaliṃ paggahetvāna, paripucchiṃ gaṇaṃ ahaṃ.
Having seen them in the wilderness, I then approached that group; having raised my hands in reverence, I questioned the group.
Khi ấy, sau khi đã nhìn thấy họ ở trong khu rừng, tôi đã đi đến nhóm người ấy. Sau khi đã chắp tay, tôi đã hỏi han nhóm người ấy.
16.
16.
16.
‘‘Te me puṭṭhā viyākaṃsu, sīlavanto upāsakā;
Māḷaṃ mayaṃ kattukāmā, ekatthambho na labbhati.
Those virtuous lay followers, when asked by me, explained: ‘We wish to make a pavilion, but a single pillar cannot be obtained.’
“Các vị cận sự nam có giới đức ấy, sau khi được tôi hỏi, đã trả lời rằng: ‘Chúng tôi có ý muốn xây dựng một gian sảnh, một cây cột không được tìm thấy.’
17.
17.
17.
‘‘Ekatthambhaṃ mamaṃ detha, ahaṃ dassāmi satthuno;
Āharissāmahaṃ thambhaṃ, appossukkā bhavantu te †.
‘Grant me the task of the single pillar; I will offer it to the Teacher. I will bring the pillar; may you be without anxiety.’
“‘Hãy trao cho tôi (việc dâng cúng) một cây cột, tôi sẽ dâng đến đức Đạo Sư. Tôi sẽ mang cây cột đến, các vị hãy được thong thả.’
18.
18.
18.
‘‘Te me thambhaṃ pavecchiṃsu, pasannā tuṭṭhamānasā;
Tato paṭinivattitvā, agamaṃsu sakaṃ gharaṃ.
Devout and with delighted minds, they entrusted the pillar to me. Then, having turned back, they went to their own homes.
“Các vị ấy đã trao cho tôi cây cột, với tâm ý trong sạch và hoan hỷ. Sau đó, sau khi đã quay về, họ đã đi đến nhà của mình.
19.
19.
19.
‘‘Aciraṃ gate pūgagaṇe, thambhaṃ ahāsahaṃ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, paṭhamaṃ ussapesahaṃ.
When the association had not long gone, I then brought the pillar. Joyful, with a joyful mind, I was the first to erect it.
“Không bao lâu sau khi hội chúng đã ra đi, khi ấy tôi đã mang đến cây cột. Hân hoan, với tâm ý hân hoan, tôi đã dựng lên (cây cột) đầu tiên.
20.
20.
20.
‘‘Tena cittappasādena, vimānaṃ upapajjahaṃ;
Ubbiddhaṃ bhavanaṃ mayhaṃ, sattabhūmaṃ † samuggataṃ.
Through that mental devotion, I was reborn in a mansion. My dwelling was lofty, seven-storied, and well-arisen.
“Do nhờ sự trong sạch của tâm ý ấy, tôi đã được sanh vào lâu đài. Chỗ ở của tôi cao vút, có bảy tầng, và vươn thẳng lên cao.
21.
21.
21.
‘‘Vajjamānāsu bherīsu, paricāremahaṃ sadā;
Pañcapaññāsakappamhi, rājā āsiṃ yasodharo.
While great drums were being beaten, I was always attended upon. In the fifty-fifth aeon from now, I was the king Yasodhara.
“Trong khi các trống trận đang được đánh lên, tôi luôn luôn vui hưởng. Cách đây năm mươi lăm kiếp, tôi đã là vị vua Yasodhara.
22.
22.
22.
‘‘Tatthāpi bhavanaṃ mayhaṃ, sattabhūmaṃ samuggataṃ;
Kūṭāgāravarūpetaṃ, ekatthambhaṃ manoramaṃ.
Even then, my dwelling was lofty, seven-storied, and well-arisen, endowed with excellent gabled chambers, a delightful single-pillared palace.
“Ngay cả ở nơi đó, chỗ ở của tôi có bảy tầng và vươn thẳng lên cao, được trang bị các gian phòng có mái nhọn tuyệt hảo, là (lâu đài) một cột làm vui thích tâm ý.
23.
23.
23.
‘‘Ekavīsatikappamhi, udeno nāma khattiyo;
Tatrāpi bhavanaṃ mayhaṃ, sattabhūmaṃ samuggataṃ.
In the twenty-first aeon from now, I was a king named Udena. Even there my dwelling was lofty, seven-storied, and well-arisen.
“Cách đây hai mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên là Udena. Ngay cả ở nơi đó, chỗ ở của tôi có bảy tầng và vươn thẳng lên cao.
24.
24.
24.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Anubhomi sukhaṃ sabbaṃ †, ekatthambhassidaṃ phalaṃ.
Whatever existence I am reborn into, whether divine or human, I experience every happiness. This is the fruit of the single pillar.
“Bất cứ sanh thú nào tôi sanh vào, hoặc là hàng chư Thiên hoặc là loài người, tôi đều thọ hưởng tất cả sự an lạc. Đây là quả báo của (việc dâng cúng) một cây cột.
25.
25.
25.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ thambhamadadaṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ekatthambhassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons ago, when I gave that pillar, I have not known a woeful state since. This is the fruit of the single pillar.
“Cách đây chín mươi bốn kiếp, vào lúc tôi đã dâng cúng cây cột, tôi không hề biết đến cảnh khổ. Đây là quả báo của (việc dâng cúng) một cây cột.
26.
26.
26.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích, tám giải thoát này, và sáu thắng trí đã được tôi chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ekatthambhiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the venerable Elder Ekatthambhika spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Ekathambhika, bậc đáng kính, đã nói lên những câu kệ này.
Ekatthambhikattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Ekatthambhika.
Thánh Cả Ký Sự của Trưởng lão Ekathambhika, phần thứ hai.