Bản dịch
THA -ap13 — Ký Sự về Trưởng Lão Sīhāsanadāyaka
Sīhāsanadāyakattheraapadāna
BJT 674(Vào lúc ấy) đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha đã Niết Bàn, Phật Ngôn đã được lan rộng, Giáo Pháp đã được nhiều người hiểu biết.
BJT 675Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thực hiện bảo tọa sư tử. Sau khi làm xong bảo tọa sư tử, tôi đã thực hiện ghế kê chân.
BJT 676Và khi trời mưa ở bảo tọa sư tử, tôi đã xây dựng ngôi nhà ở tại nơi ấy. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 677Ngay lập tức đã có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi dài hai mươi bốn do-tuần, rộng mười bốn do-tuần.
BJT 678Có một trăm ngàn thiếu nữ luôn luôn vây quanh tôi. Và có chiếc ghế bành làm bằng vàng đã khéo được hóa hiện ra ở tòa lâu đài.
BJT 679Phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, phương tiện di chuyển của cõi trời được sẵn sàng. Các tòa lâu đài và luôn cả các kiệu khiêng đều dược sanh lên theo như ước muốn.
BJT 680Có các chiếc ghế bành làm bằng ngọc ma-ni và nhiều chiếc khác làm bằng lõi gỗ, tất cả đều được sanh lên cho tôi; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.
BJT 681Tôi bước lên những đôi giày làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng pha-lê và ngọc bích; điều này là quả báu của chiếc ghế kê chân.
BJT 682Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 683Trước đây bảy mươi ba kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Inda. Trước đây bảy mươi hai kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Sumana.
BJT 684Trước đây đúng bảy mươi kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Varuṇa, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể ở bốn châu lục.
BJT 685Bốn (tuệ) phân tích, ―(nt)― đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sīhāsanadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sīhāsanadāyaka là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Sīhāsanadāyakattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Who Gave a Lion Throne
1. Thiên sự về Trưởng lão Thí chủ Tòa Sư Tử
1.
1.
1.
‘‘Nibbute lokanāthamhi, siddhatthe dvipaduttame †;
Vitthārike pāvacane, bāhujaññamhi sāsane.
When the Lord of the World, Siddhattha, the supreme among two-footed beings, had attained Parinibbāna, when the teaching was spread far and wide, and the dispensation was known by many people,
“Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha, đấng tối thượng của loài hai chân, đã nhập Niết Bàn; khi lời dạy đã được lan truyền, khi giáo Pháp đã được nhiều người biết đến.
2.
2.
2.
‘‘Pasannacitto sumano, sīhāsanamakāsahaṃ;
Sīhāsanaṃ karitvāna, pādapīṭhamakāsahaṃ.
With a devout and joyful mind, I made a lion throne; having made the lion throne, I also made a footstool.
“Với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã làm một chiếc tòa sư tử. Sau khi đã làm chiếc tòa sư tử, tôi đã làm một cái bệ để chân.
3.
3.
3.
‘‘Sīhāsane ca vassante, gharaṃ tattha akāsahaṃ;
Tena cittappasādena, tusitaṃ upapajjahaṃ.
And when it rained on the lion throne, I made a shelter over it. Through that mental devotion, I was reborn in the Tusita heaven.
“Và khi trời mưa trên chiếc tòa sư tử, tôi đã làm một mái che ở nơi ấy. Do nhờ sự trong sạch của tâm ý ấy, tôi đã được sanh lên cõi trời Tusita (Đâu-suất).
4.
4.
4.
‘‘Āyāmena catubbīsa, yojanaṃ āsi † tāvade;
Vimānaṃ sukataṃ mayhaṃ, vitthārena catuddasa.
There, my well-made mansion was twenty-four yojanas in length and fourteen yojanas in width.
“Ở nơi ấy, lâu đài được tạo tác tốt đẹp của tôi có chiều dài là hai mươi bốn do-tuần và có chiều rộng là mười bốn (do-tuần).
5.
5.
5.
‘‘Sataṃ † kaññāsahassāni, parivārenti maṃ sadā;
Soṇṇamayañca pallaṅkaṃ, byamhe āsi sunimmitaṃ.
One hundred thousand maidens always attend upon me. And in the mansion there was a well-made golden couch.
“Một trăm ngàn thiếu nữ luôn luôn hầu hạ tôi. Và chiếc ngai vàng làm bằng vàng, được tạo tác tốt đẹp, đã hiện hữu ở trong lâu đài.
6.
6.
6.
‘‘Hatthiyānaṃ assayānaṃ, dibbayānaṃ upaṭṭhitaṃ;
Pāsādā sivikā ceva, nibbattanti yadicchakaṃ.
Elephant vehicles, horse vehicles, and divine vehicles were at my service; palaces and palanquins also arose according to my wish.
“Xe voi, xe ngựa, và xe cộ chư Thiên đã được chuẩn bị sẵn sàng. Các lâu đài và các kiệu cáng cũng sanh khởi theo như ý muốn.
7.
7.
7.
‘‘Maṇimayā ca pallaṅkā, aññe sāramayā bahū;
Nibbattanti mamaṃ sabbe, sīhāsanassidaṃ phalaṃ.
Couches made of gems and many others made of heartwood—all of them arose for me. This is the fruit of offering the lion throne.
“Các ngai vàng làm bằng ngọc ma-ni và nhiều ngai vàng khác làm bằng gỗ lõi cây, tất cả đều sanh khởi cho tôi. Đây là quả báo của (việc dâng cúng) tòa sư tử.
8.
8.
8.
‘‘Soṇṇamayā rūpimayā, phalikāveḷuriyāmayā;
Pādukā abhirūhāmi, pādapīṭhassidaṃ phalaṃ.
I wear footwear made of gold, silver, crystal, and beryl. This is the fruit of offering the footstool.
“Tôi được mang những đôi dép làm bằng vàng, bằng bạc, bằng pha lê, bằng ngọc lưu ly. Đây là quả báo của (việc dâng cúng) bệ để chân.
9.
9.
9.
‘‘Catunnavutito † kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, puññakammassidaṃ phalaṃ.
Ninety-four aeons ago, when I performed that kamma, I have not known a woeful state since. This is the fruit of that meritorious kamma.
“Cách đây chín mươi bốn kiếp, tôi đã thực hiện nghiệp ấy vào lúc đó. Tôi không hề biết đến cảnh khổ. Đây là quả báo của nghiệp phước thiện.
10.
10.
10.
‘‘Tesattatimhito kappe, indanāmā tayo janā;
Dvesattatimhito kappe, tayo sumananāmakā.
Seventy-three aeons ago, I was a king named Inda on three occasions; seventy-two aeons ago, I was one named Sumana on three occasions.
“Cách đây bảy mươi ba kiếp, đã có ba vị tên là Inda. Cách đây bảy mươi hai kiếp, đã có ba vị tên là Sumana.
11.
11.
11.
‘‘Samasattatito kappe, tayo varuṇanāmakā;
Sattaratanasampannā, catudīpamhi issarā.
Seventy aeons ago, I was a universal monarch named Varuṇa on three occasions, endowed with the seven treasures and sovereign over the four continents.
“Cách đây bảy mươi kiếp, đã có ba vị tên là Varuṇa, các vị ấy sở hữu bảy báu vật và là đấng Tối Thượng ở bốn châu.
12.
12.
12.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.
“Bốn Tuệ Phân Tích, tám sự giải thoát này, và sáu Thắng Trí đã được tôi chứng ngộ. Lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sīhāsanadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Sīhāsanadāyaka spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Thí chủ Tòa Sư Tử đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Sīhāsanadāyakattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna of the Elder Sīhāsanadāyaka is finished.
Dứt thiên sự thứ nhất về Trưởng lão Thí chủ Tòa Sư Tử.