Bản dịch
THA -ap139 — Ký Sự về Trưởng Lão Atthasandassaka
Atthasandassakattheraapadāna
BJT 1915Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc có lậu hoặc đã được đoạn tận, vị đã đạt năng lực, đang ngồi ở nơi khoảnh rừng rộng, được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 1916“Một trăm ngàn vị có ba minh, có sáu thắng trí, có đại thần lực quây quanh bậc Toàn Giác, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1917Ở (thế gian) gồm cả chư Thiên, người có sự tương đương về trí tuệ không tìm thấy, ai là người nhìn thấy bậc Toàn Giác có trí tuệ vô biên mà không tịnh tín?
BJT 1918Và người ta không thể làm tổn hại Pháp Thân đang chiếu sáng (giống như) toàn bộ hầm mỏ châu ngọc, ai là người nhìn thấy (Ngài) mà không tịnh tín?”
BJT 1919Với ba lời kệ này, vị Nārada Saragacchiya đã ngợi ca về đấng Toàn Giác bậc không bị đánh bại Padumuttara.
BJT 1920Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm và do sự ngợi ca đức Phật, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1921Trước đây ba ngàn kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Sumitta, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1922Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Atthasandassakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Atthasandassaka là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Atthasandassakattheraapadānaṃ
7. The Seventh Apadāna of the Elder Atthasandassaka.
7. Thiên sử của trưởng lão Atthasandassaka
47.
47.
47.
‘‘Visālamāḷe āsīno, addasaṃ lokanāyakaṃ;
Khīṇāsavaṃ balappattaṃ, bhikkhusaṅghapurakkhataṃ.
Seated in a spacious pavilion, I saw the Leader of the World, one whose taints are destroyed, who has attained the powers, and is revered by the Saṅgha of bhikkhus.
(Tôi) đang ngồi ở trong sảnh đường rộng lớn, đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc đã tận trừ các lậu hoặc, đã đạt đến các lực, được hội chúng Tỳ khưu vây quanh.
48.
48.
48.
‘‘Satasahassā tevijjā, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Parivārenti sambuddhaṃ, ko disvā nappasīdati.
One hundred thousand who possess the three true knowledges, the six supernormal powers, and great psychic abilities surround the Sambuddha—who, having seen this, would not be filled with faith?
Một trăm ngàn vị Tam Minh, Lục Thông, và có đại thần lực đang vây quanh đức Chánh Đẳng Giác. Ai thấy (Ngài) mà không tịnh tín?
49.
49.
49.
‘‘Ñāṇe upanidhā yassa, na vijjati sadevake;
Anantañāṇaṃ sambuddhaṃ, ko disvā nappasīdati.
He for whose knowledge no comparison can be found in the world with its gods—who, having seen the Sambuddha of infinite knowledge, would not be filled with faith?
Vị nào mà ở trong thế giới gồm cả chư Thiên không có sự so sánh về trí tuệ, (vị ấy là) đức Chánh Đẳng Giác có trí tuệ vô biên. Ai thấy (Ngài) mà không tịnh tín?
50.
50.
50.
‘‘Dhammakāyañca dīpentaṃ, kevalaṃ ratanākaraṃ;
Vikappetuṃ † na sakkonti, ko disvā nappasīdati.
Illuminating the body of the Dhamma, the sole mine of jewels, which none are able to fathom—who, having seen this, would not be filled with faith?
Bậc đang thuyết giảng về Pháp thân, là kho tàng của các châu báu trọn vẹn, (chư Thiên và nhân loại) không thể suy lường được. Ai thấy (Ngài) mà không tịnh tín?
51.
51.
51.
‘‘Imāhi tīhi gāthāhi, nāradovhayavacchalo †;
Padumuttaraṃ thavitvāna, sambuddhaṃ aparājitaṃ.
With these three verses, I, the amiable brahmin named Nārada, having praised Padumuttara, the unconquered Sambuddha,
Vị Bà-la-môn tên Nārada, người dễ mến, sau khi đã tán dương đức Chánh Đẳng Giác Padumuttara, bậc Bất Bại, bằng ba câu kệ này,
52.
52.
52.
‘‘Tena cittappasādena, buddhasanthavanena ca;
Kappānaṃ satasahassaṃ, duggatiṃ, nupapajjahaṃ.
Through that confidence of mind and through that praise of the Buddha, for one hundred thousand aeons, I was not reborn in a woeful state.
Do nhờ sự tịnh tín của tâm ấy và do nhờ sự tán dương đức Phật, tôi đã không sanh vào đường ác trong một trăm ngàn kiếp.
53.
53.
53.
‘‘Ito tiṃsakappasate, sumitto nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Three thousand aeons ago from now, I was a khattiya named Sumitta, a wheel-turning monarch of great power, endowed with the seven treasures.
Cách đây ba ngàn kiếp, (tôi) là vị vua Sát-đế-lỵ tên Sumitta, là vị Chuyển luân vương có đại oai lực, đầy đủ bảy báu.
54.
54.
54.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been done.
“Bốn Tuệ phân tích ... (như trên) ... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā atthasandassako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Atthasandassaka spoke these verses.
Tôn giả trưởng lão Atthasandassaka đã nói những câu kệ này như thế ấy.
Atthasandassakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna of the Elder Atthasandassaka is finished.
Thiên sử của trưởng lão Atthasandassaka là phần thứ bảy.