Bản dịch
THA -ap135 — Ký Sự về Trưởng Lão Candanapūjaka
3 Candanapūjanakattheraapadāna
BJT 1886Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Và tôi đã có thức ăn là bông hoa, tương tợ như vậy có y phục là bông hoa.
BJT 1887Và đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã đi ra ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng, tợ như chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 1888“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Tâm của Ngài khéo được thanh tịnh. Ngài có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, có khuôn mặt và các giác quan trong sáng.”
BJT 1889Bậc Trí Tuệ có tuệ bao la đã từ bầu trời bước xuống. Ngài đã trải ra tấm y hai lớp rồi đã ngồi vào tư thế kiết già.
BJT 1890Tôi đã cầm lấy trầm hương hòa tan rồi đã đi đến gần đấng Chiến Thắng. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 1891Sau khi đảnh lễ đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1892(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trầm hương (trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1893Trước đây một ngàn bốn trăm kiếp, ba vị (cùng) tên Rohita ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1894Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Candanapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Candanapūjaka là phần thứ ba.
(Tụng phẩm thứ tám).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Candanapūjanakattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Candanapūjanaka
3. Thiên sử về Trưởng lão Candanapūjanaka
17.
17.
17.
‘‘Candabhāgānadītīre, ahosiṃ kinnaro tadā;
Pupphabhakkho cahaṃ āsiṃ, pupphānivasano tathā †.
On the bank of the Candabhāgā River, I was a kinnara then; I was an eater of flowers, and likewise clothed in flowers.
Vào lúc ấy, tôi đã là một vị khẩn-na-la ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã có vật thực là hoa và tương tự, có y phục là hoa.
18.
18.
18.
‘‘Atthadassī tu bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Vipinaggena niyyāsi, haṃsarājāva ambare.
The Blessed One, Atthadassī, the foremost in the world, the noblest of men, went forth from the edge of the forest, like a king of swans in the sky.
Khi ấy, đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Tối Thượng ở đời, bậc Ngưu Vương trong loài người, đã đi đến ở bìa rừng, ví như vua thiên nga ở giữa hư không.
19.
19.
19.
‘‘Namo te purisājañña, cittaṃ te suvisodhitaṃ;
Pasannamukhavaṇṇosi, vippasannamukhindriyo.
Homage to you, O thoroughbred among men, your mind is well purified; you are of serene facial complexion, with perfectly serene facial faculties.
Xin đảnh lễ ngài, bậc Thượng Nhân, tâm của ngài đã được khéo thanh lọc. Ngài có sắc diện hoan hỷ, có nét mặt trong sáng.
20.
20.
20.
‘‘Orohitvāna ākāsā, bhūripañño sumedhaso;
Saṅghāṭiṃ pattharitvāna, pallaṅkena upāvisi.
Having descended from the sky, the one of great wisdom, of fine intelligence, spread out his outer robe and sat down in the cross-legged posture.
Bậc có trí tuệ rộng lớn, bậc có tuệ minh mẫn, sau khi đi xuống từ hư không, sau khi trải tấm y Tăng-già-lê, đã ngồi xuống trong thế kiết-già.
21.
21.
21.
‘‘Vilīnaṃ candanādāya, agamāsiṃ jinantikaṃ;
Pasannacitto sumano, buddhassa abhiropayiṃ.
Taking dissolved sandalwood, I went to the Victor’s presence; with a serene and happy mind, I anointed the Buddha.
Sau khi lấy gỗ chiên-đàn đã được nghiền mịn, tôi đã đi đến gần bậc Toàn Giác. Với tâm ý trong sạch, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng lên đức Phật.
22.
22.
22.
‘‘Abhivādetvāna sambuddhaṃ, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ;
Pāmojjaṃ janayitvāna, pakkāmiṃ uttarāmukho.
Having paid homage to the Fully Enlightened One, the foremost in the world, the noblest of men, and having generated joy, I departed facing north.
Sau khi đảnh lễ đức Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng ở đời, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi làm phát sanh niềm vui thích, tôi đã ra đi hướng về phương bắc.
23.
23.
23.
‘‘Aṭṭhārase kappasate, candanaṃ yaṃ apūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Since I offered sandalwood eighteen hundred eons ago, I have known no woeful state. This is the fruit of offering to the Buddha.
Cách đây một ngàn tám trăm đại kiếp, tôi đã cúng dường gỗ chiên-đàn nào, (kể từ đó) tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
24.
24.
24.
‘‘Catuddase kappasate, ito āsiṃsu te tayo;
Rohaṇī nāma † nāmena, cakkavattī mahabbalā.
Fourteen hundred eons ago from this one, there were those three named Rohaṇī, mighty wheel-turning monarchs.
“Cách đây một ngàn bốn trăm kiếp, đã có ba vị ấy là Chuyển Luân vương có đại oai lực, tên là Rohaṇī.
25.
25.
25.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā candanapūjanako thero imā gāthāyo abhāsitthāti;
‘The four analytical knowledges... (etc.) ...the teaching of the Buddha has been fulfilled.’ Thus indeed, the Venerable Elder Candanapūjanaka spoke these verses.
“Bốn Tuệ Phân tích ... (như trên) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.” Như vậy, Đại đức Trưởng lão Candanapūjanaka đã nói những câu kệ này.
Candanapūjanakattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Candanapūjanaka.
Thiên Bổn sanh truyện thứ ba về Trưởng lão Candanapūjanaka.
Aṭṭhamabhāṇavāraṃ.
The Eighth Recitation Section.
Phẩm tụng thứ tám.