Bản dịch
THA -ap131 — Ký Sự về Trưởng Lão Gandhapupphiya
9 Gaṇṭhipupphiyattheraapadāna
BJT 1856Bậc Toàn Giác Vipassī có màu da vàng chói, bậc xứng đáng sự cúng dường, dẫn đầu các vị Thinh Văn, đã rời khỏi tu viện.
BJT 1857Sau khi nhìn thấy đức Phật tối thượng, đấng Toàn Tri, bậc tiêu diệt sự tăm tối, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường bông hoa có hương thơm.
BJT 1858Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm đối với đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã đảnh lễ đức Như Lai lần nữa.
BJT 1859(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1860Trước đây bốn mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Caraṇa, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1861Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Gandhapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Gandhapupphiya là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Gaṇṭhipupphiyattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Gaṇṭhipupphiya
9. Apadāna của Trưởng lão Gaṇṭhipupphiya
91.
91.
91.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho, vipassī dakkhiṇāraho;
Purakkhato sāvakehi, ārāmā abhinikkhami.
“The Fully Enlightened One of golden complexion, Vipassī, worthy of offerings, surrounded by his disciples, went forth from the monastery.”
“Bậc Chánh Đẳng Giác Vipassī, có màu da vàng ròng, xứng đáng được cúng dường, được các vị đệ tử vây quanh, đã đi ra khỏi tu viện.”
92.
92.
92.
‘‘Disvānahaṃ buddhaseṭṭhaṃ, sabbaññuṃ tamanāsakaṃ;
Pasannacitto sumano, gaṇṭhipupphaṃ † apūjayiṃ.
“Having seen the supreme Buddha, the All-Knowing, the Dispeller of Darkness, with a serene and joyful mind, I worshipped him with Gaṇṭhi flowers.”
“Sau khi nhìn thấy bậc Tối Thắng Giác, bậc Toàn Tri, vị phá tan bóng tối, tôi với tâm tịnh tín, ý hoan hỷ, đã cúng dường đóa hoa lài.”
93.
93.
93.
‘‘Tena cittappasādena, dvipadindassa tādino;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, puna vandiṃ tathāgataṃ.
“Through that serenity of mind towards the Leader of the Two-Footed, the Stable One, joyful and with a joyful mind, I again paid homage to the Tathāgata.”
“Do bởi sự tịnh tín của tâm ấy, đối với bậc Lãnh Đạo chúng hai chân, bậc Tādino, tôi vui mừng với tâm hoan hỷ, đã một lần nữa đảnh lễ đấng Như Lai.”
94.
94.
94.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-one eons ago, for the flower I offered then, I have not known a woeful state—this is the fruit of worshipping the Buddha.”
“Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, khi tôi đã dâng cúng đóa hoa nào; (kể từ đó) tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là quả của việc cúng dường đức Phật.”
95.
95.
95.
‘‘Ekatālīsito kappe, caraṇo nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
“Forty-one eons ago, I was a khattiya named Caraṇa, a wheel-turning monarch endowed with the seven treasures and of great might.”
“Vào kiếp thứ bốn mươi mốt tính từ đây, (tôi là) vị Sát-đế-lỵ tên là Caraṇa, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.”
96.
96.
96.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā gaṇṭhipupphiyo † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Gaṇṭhipupphiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Gaṇṭhipupphiya đã nói những câu kệ này.
Gaṇṭhipupphiyattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Gaṇṭhipupphiya.
Apadāna của Trưởng lão Gaṇṭhipupphiya, câu chuyện thứ chín.