Bản dịch
THA -ap12 — Ký Sự về Trưởng Lão Ānanda
Ānandattheraapadāna
BJT 653Sau khi đi ra khỏi cổng tu viện, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara trong lúc đổ mưa cơn mưa Bất Tử đã giúp cho đám đông dân chúng đạt đến Niết Bàn.
BJT 654Một trăm ngàn vị anh hùng ấy có sáu thắng trí, có đại thần lực, tháp tùng bậc Toàn Giác tợ như bóng không có sự xa lìa (hình).
BJT 655Tôi đã ngồi trên mình voi (nắm giữ) chiếc lọng trắng cao quý tối thượng. Sau khi nhìn thấy hình dáng vô cùng lịch sự, tôi đã có niềm hạnh phúc sanh khởi.
BJT 656Leo xuống từ mình voi, tôi đã đi đến gần bậc Nhân Ngưu. Tôi đã cầm lấy chiếc lọng làm bằng châu báu của tôi che cho đức Phật Tối Thượng.
BJT 657Sau khi biết được ý định của tôi, bậc Đại Ần Sĩ Padumuttara đã ngưng lại cuộc thuyết giảng ấy và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 658“Người nào đã nắm giữ chiếc lọng được tô điểm các vật trang sức bằng vàng, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 659Từ nơi này ra đi, người nam này sẽ cư ngụ ở cõi trời Đẩu Suất và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 660(Người này) sẽ cai quản Thiên quốc ba mươi bốn lần, sẽ là vị thống lãnh quân đội cư ngụ ở trái đất trong một trăm lẻ tám kiếp sống.
BJT 661(Người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi tám lần và sẽ cai quản lãnh thổ vương quốc rộng bao la ở trên trái đất.
BJT 662Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 663Có tên là Ānanda (người này) sẽ là thân bằng quyến thuộc, sẽ trở thành người thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ là biểu tượng của gia tộc dòng Sakya.
BJT 664(Người này) sẽ có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, được rành rẽ về nhiều chân lý, có hành vi khiêm nhường, không nhẫn tâm, có sự trì tụng toàn bộ.
BJT 665Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh, (người này) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
BJT 666Các con voi sống ở rừng là loài voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi, có các ngà như cán cày, là phương tiện di chuyển của đức vua.
BJT 667Hàng trăm ngàn vị ấy cũng là các bậc trí tuệ và có đại thần lực, tất cả các vị ấy là không sánh bằng đối với đức Phật đấng Tượng Vương.
BJT 668Tôi lễ bái vào canh đầu, vào canh giữa, và vào canh cuối. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã phục vụ đức Phật Tối Thượng.
BJT 669Tôi có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, có sự nhận biết mình, có niệm (đầy đủ), đã đạt đến Quả vị Nhập Lưu, và rành rẽ về các nền tảng của bậc Hữu Học.
BJT 670Việc tôi đã khẳng định về hành động ở một trăm ngàn kiếp trước đây, tôi đã thành tựu nền tảng ấy, tôi đã được tồn tại, được bất động ở Chánh Pháp.
BJT 671Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 672Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 673Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ānanda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ānanda là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Phật (Toàn Giác), Phật Độc Giác, vị Sāriputta, vị Koḷita, vị Kassapa, vị Anuruddha, vị trưởng lão Puṇṇa, vị Upāli, vị Aññāsikoṇḍañña, vị Piṇḍola, vị Revata, và bậc trí tuệ Ānanda; toàn bộ sáu trăm năm mươi câu kệ đã được gộp chung lại.
Phẩm Đức Phật là phẩm thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3-10. Ānandattheraapadānaṃ
3–10. The Apadāna of the Elder Ānanda
3-10. Phẩm chuyện về trưởng lão Ānanda
644.
644.
644.
‘‘Ārāmadvārā nikkhamma, padumuttaro mahāmuni;
Vassento amataṃ vuṭṭhiṃ, nibbāpesi mahājanaṃ.
“Leaving the monastery gate, the great sage Padumuttara, showering the rain of the Deathless, brought peace to the great multitude.”
Đại ẩn sĩ Padumuttara, sau khi đi ra khỏi cổng tu viện, đã làm cho đại chúng được mát mẻ bằng cách làm cho rơi xuống cơn mưa bất tử.
645.
645.
645.
‘‘Satasahassaṃ te dhīrā, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Parivārenti sambuddhaṃ, chāyāva anapāyinī †.
“A hundred thousand of those wise ones, with the six direct knowledges and great psychic power, surrounded the Perfectly Enlightened One like an inseparable shadow.”
Một trăm ngàn vị hiền trí ấy, là những vị có sáu thắng trí, có đại thần lực, đã vây quanh đức Chánh Đẳng Giác giống như bóng không rời hình.
646.
646.
646.
‘‘Hatthikkhandhagato āsiṃ, setacchattaṃ varuttamaṃ;
Sucārurūpaṃ disvāna, vitti me udapajjatha.
“I was seated on an elephant’s back, holding a supreme white parasol. Seeing his very beautiful form, joy arose in me.”
Lúc ấy, tôi đang ngồi trên lưng voi, che chiếc lọng trắng cao quý và tốt đẹp nhất. Sau khi nhìn thấy (đức Phật) có hình sắc xinh đẹp, sự hoan hỷ đã sanh lên cho tôi.
647.
647.
647.
‘‘Oruyha hatthikhandhamhā, upagacchiṃ narāsabhaṃ;
Ratanāmayachattaṃ me, buddhaseṭṭhassa dhārayiṃ.
“Descending from the elephant’s back, I approached the bull among men. I held my jeweled parasol for the supreme Buddha.”
Sau khi xuống khỏi lưng voi, tôi đã đi đến bậc Nhân Ngưu. Tôi đã che chiếc lọng làm bằng châu báu của tôi cho đấng Tối Thắng Giác Ngộ.
648.
648.
648.
‘‘Mama saṅkappamaññāya, padumuttaro mahāisi;
Taṃ kathaṃ ṭhapayitvāna, imā gāthā abhāsatha.
“Knowing my intention, the great sage Padumuttara, after pausing that discourse, spoke these verses.”
Đại ẩn sĩ Padumuttara, sau khi biết được ý định của tôi, đã dừng lại bài nói chuyện ấy và đã nói lên những câu kệ này.
649.
649.
649.
‘‘‘Yo so chattamadhāresi, soṇṇālaṅkārabhūsitaṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇotha mama bhāsato.
“‘He who held the parasol, adorned with golden ornaments—him I shall praise; listen to me as I speak.’”
‘Vị nào đã che chiếc lọng được trang hoàng với các vật trang sức bằng vàng, Ta sẽ tán dương vị ấy. Các ngươi hãy lắng nghe lời Ta nói.’
650.
650.
650.
‘‘‘Ito gantvā ayaṃ poso, tusitaṃ āvasissati;
Anubhossati sampattiṃ, accharāhi purakkhato.
“‘Having gone from here, this person will dwell in the Tusita heaven. He will enjoy prosperity, attended by celestial nymphs.’”
‘Sau khi đi khỏi nơi đây, người này sẽ trú ngụ ở cõi trời Tusita (Đâu-suất). Được các thiên nữ vây quanh, vị ấy sẽ thụ hưởng sự thành tựu.’
651.
651.
651.
‘‘‘Catuttiṃsatikkhattuñca, devarajjaṃ karissati;
Balādhipo aṭṭhasataṃ, vasudhaṃ āvasissati.
“‘Thirty-four times he will exercise the kingship of the devas. As a commander of forces, eight hundred times he will rule over the earth.’”
‘Và ba mươi bốn lần, vị ấy sẽ làm vua cõi trời. Tám trăm lần, vị ấy sẽ là vị thống lãnh quân đội và sẽ cai quản quả đất.’
652.
652.
652.
‘‘‘Aṭṭhapaññāsakkhattuñca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, mahiyā kārayissati.
“‘Fifty-eight times he will become a wheel-turning monarch. He will exercise vast regional sovereignty on earth.’”
‘Và năm mươi tám lần, vị ấy sẽ là vị Chuyển Luân Vương. Vị ấy sẽ thực hiện vương quyền trên lãnh địa rộng lớn ở trên mặt đất.’
653.
653.
653.
‘‘‘Kappasatasahassamhi, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
“‘In a hundred thousand eons, born of the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan name will arise in the world.’”
‘Vào một trăm ngàn đại kiếp, vị Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ có mặt ở trên đời.’
654.
654.
654.
‘‘‘Sakyānaṃ kulaketussa, ñātibandhu bhavissati;
Ānando nāma nāmena, upaṭṭhāko mahesino.
“‘He will be a kinsman and relative of the banner of the Sakyan clan. Named Ānanda, he will be the attendant of the great sage.’”
‘Vị ấy sẽ là người bà con thân thuộc của đấng là ngọn cờ của dòng dõi Sakya. Với tên gọi là Ānanda, vị ấy sẽ là người thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ.’
655.
655.
655.
‘‘‘Ātāpī nipako cāpi, bāhusacce sukovido;
Nivātavutti atthaddho, sabbapāṭhī bhavissati.
“‘Ardent and wise, skilled in much learning, of humble conduct, not rigid, he will become one who bears all the scriptures.’”
‘Vị ấy sẽ là người nhiệt tâm, thận trọng, thông thạo về sự đa văn, có hạnh khiêm tốn, không cứng nhắc, và sẽ là người đọc thuộc lòng tất cả.’
656.
656.
656.
‘‘‘Padhānapahitatto so, upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya, nibbāyissatināsavo.
“‘With his mind sent forth in striving, he, peaceful and without acquisitions, having fully understood all taints, will attain Nibbāna, taintless.’”
‘Vị ấy có tâm chuyên cần tinh tấn, được an tịnh, không còn sanh y, sau khi liễu tri tất cả lậu hoặc, sẽ được tịch tịnh và không còn lậu hoặc.’
657.
657.
657.
‘‘‘Santi āraññakā nāgā, kuñjarā saṭṭhihāyanā;
Tidhāpabhinnā mātaṅgā, īsādantā urūḷhavā.
“‘There are forest-dwelling elephants, majestic ones, sixty years old, elephants in rut from three places, with tusks like chariot-poles, able to carry a king.’”
‘Có những con voi rừng, những con voi chúa sáu mươi tuổi, những con voi giống mātaṅga đang trong thời kỳ động cỡn ở ba nơi, có ngà giống như cây gọng ách, có sức mạnh to lớn.’
658.
658.
658.
‘‘‘Anekasatasahassā, paṇḍitāpi mahiddhikā;
Sabbe te buddhanāgassa, na hontu paṇidhimhi te’ †.
“‘Many hundreds of thousands, wise ones of great power—may they all not be equal to your aspiration for the Buddha, the great Nāga.’”
‘Có nhiều trăm ngàn vị hiền trí và có đại thần lực; tất cả các vị ấy, trong sự so sánh, không thể sánh bằng với đức Voi Chúa Giác Ngộ.’
659.
659.
659.
‘‘Ādiyāme namassāmi, majjhime atha pacchime;
Pasannacitto sumano, buddhaseṭṭhaṃ upaṭṭhahiṃ.
“I pay homage in the first watch, the middle watch, and then the last. With a devoted and joyful mind, I attended upon the supreme Buddha.”
Tôi đã đảnh lễ vào canh đầu, rồi vào canh giữa, và vào canh cuối. Với tâm ý trong sạch, với ý vui mừng, tôi đã hầu hạ đấng Tối Thắng Giác Ngộ.
660.
660.
660.
‘‘Ātāpī nipako cāpi, sampajāno patissato;
Sotāpattiphalaṃ patto, sekhabhūmīsu kovido.
“Ardent and wise, clearly comprehending and mindful, I have attained the fruit of stream-entry and am skilled in the grounds of the trainees.”
Là người nhiệt tâm, thận trọng, tỉnh giác, và chánh niệm, tôi đã đạt được quả vị Nhập Lưu, là người thông thạo về các quả vị của bậc hữu học.
661.
661.
661.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ kammamabhinīhariṃ;
Tāhaṃ bhūmimanuppatto, ṭhitā saddhammamācalā †.
A hundred thousand aeons ago, I made an aspiration; I have now attained that state, established and unshaken in the good Dhamma.
Vào một trăm ngàn đại kiếp trước, tôi đã hướng đến hành động nào, tôi đã đạt được quả vị ấy. (Quả vị ấy) được đứng vững, không bị lay chuyển trong Chánh Pháp.
662.
662.
662.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, buddhaseṭṭhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming into the presence of the supreme Buddha. The threefold knowledge has been attained; the Buddha’s teaching has been done.
Việc tôi đã đến quả là tốt đẹp, ở nơi sự hiện diện của đấng Tối Thắng Giác Ngộ. Ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
663.
663.
663.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chứng ngộ. Giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā ānando thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Ānanda spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Ānanda đã nói lên những câu kệ này.
Ānandattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Ānanda is finished.
Phẩm chuyện về trưởng lão Ānanda là phẩm thứ mười.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm này:
Buddho paccekabuddho ca, sāriputto ca kolito;
Kassapo anuruddho ca, puṇṇatthero upāli ca.
The Buddha, a Paccekabuddha, Sāriputta, and Kolita; Kassapa, Anuruddha, the Elder Puṇṇa, and Upāli,
Đức Phật, và vị Phật Độc Giác, và Sāriputta, và Kolita, Kassapa, và Anuruddha, trưởng lão Puṇṇa, và Upāli.
Aññāsikoṇḍañño piṇḍolo, revatānandapaṇḍito;
Chasatāni ca paññāsa, gāthāyo sabbapiṇḍitā.
Aññāsi Koṇḍañña, Piṇḍola, Revata, and Ānanda the wise. The verses all gathered together are six hundred and fifty-nine.
Aññāsikoṇḍañña, Piṇḍola, Revata, và Ānanda bậc hiền trí. Tổng cộng tất cả là sáu trăm năm mươi câu kệ.
The first chapter, the Buddhāvagga, in the Apadāna is finished.
Phẩm Phật Đà là phẩm thứ nhất trong tập Apadāna.